Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ5-NCKH 04/05/2026

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH HỌC CỦA GÃY KÍN XƯƠNG BẢ VAI TRÊN X QUANG VÀ CẮT LỚP VI TÍNH

Trịnh Đình Thanh1,2, Nguyễn Mạnh Khánh3,4, Phạm Văn Thương1,2
1 Department of Surgery and Surgical Practice, Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
2 Bộ môn Ngoại và Phẫu thuật thực hành, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
3 Viet Duc University Hospital
4 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD5.4984
20 Lượt xem
8 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái gãy kín xương bả vai trên X quang và CT, đồng thời đánh giá giá trị chẩn đoán của X quang so với CT trong phát hiện tổn thương xương bả vai và các tổn thương lồng ngực phối hợp.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 220 bệnh nhân gãy kín xương bả vai được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện. Tất cả bệnh nhân được chụp X quang và CT ngực hoặc CT vai. Các đặc điểm dịch tễ học, cơ chế chấn thương, vị trí gãy xương, số mảnh gãy, phân loại AO/OTA và các tổn thương lồng ngực phối hợp được phân tích và so sánh giữa hai phương pháp chẩn đoán hình ảnh.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 48,9 ± 15,2 tuổi, nam giới chiếm 84,1%. Tai nạn giao thông là nguyên nhân chủ yếu (70%). X quang phát hiện được 70,5% trường hợp gãy xương bả vai, trong khi 29,5% trường hợp bị bỏ sót và chỉ được phát hiện trên CT. Độ nhạy của X quang khác nhau tùy theo vị trí gãy: 69,4% đối với thân xương bả vai, 66,7% đối với ổ chảo, 35,3% đối với mỏm cùng vai, 26,1% đối với mỏm quạ, và 0% đối với gãy gai vai. CT phát hiện gãy ≥ 3 mảnh nhiều hơn đáng kể so với X quang (56,4% so với 28,4%; p = 0,007). Phân loại AO/OTA trên CT cũng cho thấy tỷ lệ tổn thương phức tạp cao hơn so với X quang. Ngoài ra, CT phát hiện nhiều tổn thương lồng ngực phối hợp hơn so với X quang, đặc biệt là dập phổi, tràn máu màng phổi và tràn khí màng phổi (p < 0,01).

Kết luận: X quang thường quy có giá trị bước đầu trong phát hiện gãy xương bả vai, tuy nhiên độ nhạy còn hạn chế và dễ bỏ sót các tổn thương phức tạp, đặc biệt ở các vị trí như mỏm quạ, mỏm cùng vai và gai vai. CT có giá trị vượt trội trong chẩn đoán, đánh giá hình thái gãy và phát hiện các tổn thương phối hợp, do đó nên được chỉ định thường quy khi nghi ngờ gãy xương bả vai.

Tài liệu tham khảo
[1]
Court-Brown C.M, Caesar B. Epidemiology of adult fractures: a review. Injury, 2006, 37 (8): 691-697. doi: 10.1016/j.injury.2006.04.130 Google Scholar
[2]
Zlowodzki M, Bhandari M, Zelle B.A, Kregor PJ, Cole P.A. Treatment of scapula fractures: systematic review of 520 fractures in 22 case series. J Bone Joint Surg Am, 2006, 88 (3): 653-660. doi: 10.2106/JBJS.E.00882 Google Scholar
[3]
Lantry J.M, Roberts C.S, Giannoudis P.V. Operative treatment of scapular fractures: a systematic review. Injury, 2008, 39 (3): 271-283. doi: 10.1016/j.injury.2007.10.016 Google Scholar
[4]
Cole P.A, Gauger E.M, Herrera D.A. Anterior approach for scapular fractures and glenohumeral instability. J Orthop Trauma, 2012, 26 (4): e43-e49. doi: 10.1097/BOT.0b013e318223b37d Google Scholar
[5]
Anavian J, Gauger E.M, Schroder L.K, Wijdicks C.A, Cole P.A. Surgical management of scapular fractures: results of operative treatment. J Bone Joint Surg Am, 2011, 93 (20): 1873-1879. doi: 10.2106/JBJS.J.00273 Google Scholar
[6]
Bartoníček J, Tuček M. Scapular fractures: review of the literature and current treatment concepts. Acta Chir Orthop Traumatol Cech, 2014, 81 (3): 168-177. Google Scholar
[7]
Ideberg R. Fractures of the scapula involving the glenoid fossa. Acta Orthop Scand, 1995, 66 (5): 395-397. doi: 10.3109/17453679508995554 Google Scholar
[8]
Meinberg E.G, Agel J, Roberts C.S, Karam M.D, Kellam J.F. Fracture and dislocation classification compendium-2018. J Orthop Trauma, 2018, 32 (Suppl 1): S1-S170. doi: 10.1097/BOT.0000000000001063 Google Scholar
[9]
Hardegger F.H, Simpson L.A, Weber B.G. The operative treatment of scapular fractures. J Bone Joint Surg Br, 1984, 66 (5): 725-731. doi: 10.1302/0301-620X.66B5.6501367 Google Scholar