Bài báo khoa học Tập 63 Số chuyên đề 3-HN Sản Nhi Nghệ An (2022) 30/11/2022

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ BẰNG SONDE FOLEY ĐẶT KÊNH CỔ TỬ CUNG Ở THAI TRÊN 22 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN TỪ THÁNG 12/2021 – 10/2022

Trần Văn Cương1,2, Nguyễn Thị Phương Lâm1,2, Trần Văn Bảo1,2, Phạm Thị Thuận1,2
1 Nghe An Hospital of Obstetrics and Pediatrics
2 Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An
Tác giả liên hệ: tranvancuongdrped@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v63i8.496
21 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Trong các phương pháp khởi phát chuyển dạ, đặt ống thông Foley ở kênh cổ tử
cung là một phương pháp đơn giản, chi phí thấp được áp dụng phổ biến tại các bệnh viện lớn ở
Việt Nam.
Mục tiêu: Nhận xét hiệu quả và một số yếu tố liên quan khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley
đặt ở kênh cổ tử cung ở thai trên 22 tuần.
Phương pháp: Mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu trên 82 sản phụ có chỉ định chấm dứt thai
kỳ, tuổi thai từ 22 tuần trở lên tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 12/2021 – 10/2022.
Kết quả: Tỉ lệ thành công khởi phát chuyển dạ: thành công mức độ 1 là 93,9%: thành công
mức độ 2 là 80,5% và thành công thực sự là 73,1%. Bishop sau bơm bóng tăng trung bình là 3,5 ±
1,5 điểm. Không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng sau dùng Foley. Tỉ lệ khởi phát chuyển dạ
thành công không bị ảnh hưởng bởi nhóm tuổi, số lần sinh, tiền sử mổ lấy thai. Tỉ lệ khởi phát
chuyện dạ thành công càng cao khi chỉ số Bishop trước đặt Foley càng cao.
Kết luận: Sonde Foley có hiệu quả cao trong khởi phát chuyển dạ, rất ít tác dụng không mong
muốn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Phượng Trân, Hiệu quả của khởi Google Scholar
[2]
phát chuyển dạ bằng ống thông Foley đặt ở Google Scholar
[3]
kênh cổ tử cung ở thai trên 40 tuần tại Bệnh Google Scholar
[4]
viện Từ Dũ, Tạp chí Y học Việt Nam, 2021. Google Scholar
[5]
(2): p. 39 Google Scholar
[6]
Nguyễn Thị Anh Phương, So sánh hiệu Google Scholar
[7]
quả khới phát chuyển dạ của thông Foley bóng Google Scholar
[8]
đôi cải tiến và bóng đơn đặt kênh cổ tử cung ở Google Scholar
[9]
thai trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương. Google Scholar
[10]
Tạp chí Y học TPHCM, 2016. 20(1): p. 149- Google Scholar
[11]
Ngô Minh Hưng, Hiệu quả khởi phát Google Scholar
[12]
chuyển dạ với ống thông Foley đôi cải tiến trên Google Scholar
[13]
thai kỳ quá ngày dự sinh có chỉ định chấm dứt Google Scholar
[14]
thai kỳ tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Tạp Google Scholar
[15]
chí Y học TPHCM, 2019. 23(2): p. 121-126. Google Scholar
[16]
Nguyễn Thị Lâm Hà, Hiệu quả của khởi Google Scholar
[17]
phát chuyển dạ bằng ống thông Foley đặt thông Google Scholar
[18]
qua lỗ trong cổ tử cung ở thai đủ trưởng thành Google Scholar
[19]
tại Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa. Tạp chí Y học Google Scholar
[20]
TPHCM, 2015. 20(1): p. 322-327. Google Scholar
[21]
Marconi, Anna Maria, Recent advances in Google Scholar
[22]
the induction of labor. F1000Research, 2019. 8: Google Scholar
[23]
p. F1000 Faculty Rev-1829 Google Scholar
[24]
Gu, Ning, Foley Catheter for Induction of Google Scholar
[25]
Labor at Term: An Open-Label, Randomized Google Scholar
[26]
Controlled Trial. PloS one, 2015. 10(8) Google Scholar
[27]
Manly E., Comparing Foley Catheter to Google Scholar
[28]
Prostaglandins for Cervical Ripening in Google Scholar
[29]
Multiparous Women. J Obstet Gynaecol Can, Google Scholar
[30]
42(7): p. 853-860 Google Scholar
[31]
Chowdhary A., Comparison of Google Scholar
[32]
intracervical Foley catheter used alone or Google Scholar
[33]
combined with a single dose of dinoprostone Google Scholar
[34]
gel for cervical ripening: a randomised study. J Google Scholar
[35]
Obstet Gynaecol, 2019. 39(4): p. 461-467. Google Scholar
[36]
ACOG Practice Bulletin No. 107: Google Scholar
[37]
Induction of labor. Obstet Gynecol, 2009. Google Scholar
[38]
(2 Pt 1): p. 386-397. Google Scholar