Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ5-NCKH 04/05/2026

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI BÓC U CƠ LÀNH TÍNH THỰC QUẢN TẠI BỆNH VIỆN K

Nguyễn Văn Cương1,2, Đoàn Trọng Tú1,2, Đặng Xuân Dũng1,2
1 Department of Gastrointestinal Surgery 2, K Hospital
2 Khoa Ngoại Tiêu hóa 2, Bệnh viện K
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD5.4958
12 Lượt xem
9 Lượt tải xuống
Tóm tắt

 

Mục tiêu: Đánh giá tính khả thi và an toàn của phẫu thuật nội soi bóc u cơ lành tính thực quản (leiomyoma) tại Bệnh viện K.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên toàn bộ 24 bệnh nhân được xác nhận chẩn đoán leiomyoma thực quản bằng giải phẫu bệnh, điều trị tại Khoa Ngoại Tiêu hóa 2, Bệnh viện K từ tháng 01/2019 đến tháng 06/2025.

Kết quả: Tuổi trung bình 48,5 ± 12,3 tuổi (24–68 tuổi); tỷ lệ nam/nữ là 70,8%/29,2%. Trong tổng số bệnh nhân, 87,5% đến khám vì có triệu chứng lâm sàng, gồm nuốt nghẹn (75,0%) và đau tức ngực (12,5%); 12,5% phát hiện tình cờ. Khối u chủ yếu ở 1/3 giữa (62,5%) và 1/3 dưới (33,3%) thực quản, kích thước trung bình 33,6 ± 17,4 mm (8–80 mm). Đường tiếp cận ngực phải chiếm 91,7%, đường bụng 8,3%. Không có tai biến trong mổ. Thời gian phẫu thuật trung bình theo đường ngực và đường bụng lần lượt là 83,9 ± 17,0 phút và 140,0 ± 14,1 phút. Tỷ lệ biến chứng sớm sau mổ 4,2% (1 ca viêm phổi). Thời gian nằm viện trung bình 7,12 ± 1,1 ngày.

Kết luận: Phẫu thuật nội soi bóc leiomyoma thực quản cho thấy tính khả thi và an toàn, với tỷ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sớm thấp.

Tài liệu tham khảo
[1]
Choong CK, Meyers BF. Benign esophageal tumors: introduction, incidence, classification, and clinical features. Semin Thorac Cardiovasc Surg. 2003;15(1):3–8. Google Scholar
[2]
Zhu X, Zhang XQ, Li BM, Xu P, Zhang KH, Chen J. Esophageal mesenchymal tumors: endoscopy, pathology and immunohistochemistry. World J Gastroenterol. 2007;13(5):768–773. Google Scholar
[3]
Jiang G, Zhao H, Yang F, et al. Thoracoscopic enucleation of esophageal leiomyoma: a retrospective study on 40 cases. Dis Esophagus. 2009;22(3):279–283. Google Scholar
[4]
Nguyễn Ngọc Đan. Phẫu thuật nội soi bóc u cơ thực quản lành tính tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ Y học. Trường Đại học Y Hà Nội; 2021. Google Scholar
[5]
Choi SH, Kim YT, Han KN, et al. Surgical management of the esophageal leiomyoma: lessons from a retrospective review. Dis Esophagus. 2011;24(5):325–329. Google Scholar
[6]
Glanz I, Grünebaum M. The radiological approach to leiomyoma of the oesophagus with a long-term follow-up. Clin Radiol. 1977;28(2):197–200. Google Scholar
[7]
Punpale A, Rangole A, Bhambhani N, et al. Leiomyoma of esophagus. Ann Thorac Cardiovasc Surg. 2007;13(2):78–81. Google Scholar
[8]
Sun X, Wang J, Yang G. Surgical treatment of esophageal leiomyoma larger than 5 cm in diameter: a case report and review of the literature. J Thorac Dis. 2012;4(3):323–326. Google Scholar
[9]
von Rahden BHA, Stein HJ, Feussner H, Siewert JR. Enucleation of submucosal tumors of the esophagus: minimally invasive versus open approach. Surg Endosc. 2004;18(6):924–930. Google Scholar