Bài báo khoa học Tập 67 Số 4 25/04/2026

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH ĐA DÃY VÀ THỜI GIAN SỐNG THÊM CỦA BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN K

Đoàn Xuân Sinh1,2, Lê Hồng Mạnh1,2, Vũ Thị Hạnh1,2, Trần Thị Linh Chi1,2, Phạm Thị Thùy Nhung1,2, Nguyễn Trung Thành1,2, Nguyễn Đức Hạnh3,4, Bùi Văn Giang5,6
1 Vinmec Hai Phong International General Hospital
2 Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Hải phòng
3 Office of the Minister, Ministry of Health
4 Văn phòng Bộ, Bộ Y tế
5 K Hospital
6 Bệnh viện K
DOI: 10.52163/yhc.v67i4.4946
13 Lượt xem
4 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm, chụp cắt lớp vi tính đa dãy và thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị tại Bệnh viện K

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, theo dõi dọc 307 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện K trong thời gian từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2020 (theo dõi đến tháng 8/2022).

Kết quả: Đa số người bệnh nằm trong nhóm 41-60 tuổi với 51,8%, giới nam 88,6%, chỉ số thể trạng bình thường 91,9% và trên bệnh nền nhiễm viêm gan virus B mạn tính 81,4%. Khối u gan chủ yếu gặp thể khối 99,3%, vị trí u ở thùy phải 67,1%, đa số là đơn độc 56,7%, kích thước trong khoảng 3-7 cm với 44,3%, tỉ trọng trước tiêm giảm 74,6% và sau tiêm ngấm thuốc điển hình 89,3%. Về giai đoạn bệnh, hầu hết ở giai đoạn trung gian BCLC B với 61,6%, tiếp theo là giai đoạn BCLC A với 17,9%, chỉ có 8 trường hợp ở giai đoạn muộn BCLC D. Tỉ lệ tử vong là 53,7% (165/307). Thời gian sống thêm toàn bộ cao nhất ở nhóm có kích thước u ≤ 3cm với trung bình 28,66 tháng, nhóm có 1 u với trung bình 23,21 tháng. Thời gian sống thêm trung bình của nhóm bệnh nhân ở giai đoạn BCLC A là khoảng 30 tháng, giai đoạn trung gian B là 20 tháng, trong khi giai đoạn muộn D chỉ còn 5,6 tháng (p<0,05).

Kết luận: Người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan mới được chẩn đoán nhưng đa số đã ở giai đoạn trung gian tiến triển với thời gian sống thêm thấp.

Tài liệu tham khảo
[1]
Murillo PC, Lynch-Mejía MF, Quesada WR, et al. (2025). Real-world BCLC adherence and survival in hepatocellular carcinoma: first prospective study from Central America. Ann Hepatol, 31(1), 102154. Google Scholar
[2]
Mauro E, de Castro T, Zeitlhoefler M, et al. (2025). Hepatocellular carcinoma: Epidemiology, diagnosis and treatment. JHEP Rep, 7(12), 101571. Google Scholar
[3]
Hoàng Văn Hưng, Lập NQ (2023). Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh ung thư biểu mô tế bào gan nguyên phát trên cắt lớp vi tính và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Việt Nam, 527(6), 233-238. Google Scholar
[4]
Nguyễn Văn Nam , Nguyễn Phước Bảo Quân , Huỳnh Minh Phú (2023). Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của hình ảnh cắt lớp vi tính trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ năm 2021-2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 63, Google Scholar
[5]
Lavarone M, Alimenti E, Canova L, et al. (2025). The impact of BCLC recommendations on survival for patients with hepatocellular carcinoma. Hepatol Commun, 9(8), Google Scholar
[6]
Trần Thoại Uyên, Võ Hồng Minh Công, Trần Thị Thu Cúc, Nguyễn Ngọc Tường Vy, Nguyễn Thị Huyền Trâm (2022). Các yếu tố ảnh hưởng đến sống còn 5 năm trên bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch, 1(2), 220-227. Google Scholar
[7]
Liapis I, Ziogas IA, Theocharopoulos C, et al. (2025). Re-evaluating surgical strategies in Barcelona Clinic Liver Cancer-B hepatocellular carcinoma. World J Hepatol, 17(9), 108970. Google Scholar
[8]
Ho KKY, Chiang CL, Wong T, et al. (2025). Survival impact of conversion therapy for Barcelona Clinic Liver Cancer (BCLC) stage B and C hepatocellular carcinoma-a propensity score matching analysis. Hepatobiliary Surg Nutr, 14(6), 1063-1077. Google Scholar
[9]
Yilma M, Houhong Xu R, Saxena V, et al. (2024). Survival Outcomes Among Patients With Hepatocellular Carcinoma in a Large Integrated US Health System. JAMA Netw Open, 7(9), e2435066. Google Scholar