Bài báo khoa học Tập 67 Số 4 25/04/2026

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP HỌC DỰA TRÊN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI SINH VIÊN RĂNG HÀM MẶT NĂM THỨ NHẤT TRONG MÔ-ĐUN KHOA HỌC CƠ BẢN

Nguyễn Thị Hồng1,2, Ngô Đồng Khanh1,2, Nguyễn Hoàng Hưng3,4, Võ Thanh Sang3,4, Phạm Lê Kim Hoàng3,4, Bạch Long Giang3,4
1 Faculty of Dentistry, Nguyen Tat Thanh University
2 Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
3 Department of Basic Sciences, Nguyen Tat Thanh University
4 Bộ môn Khoa học cơ bản, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
DOI: 10.52163/yhc.v67i4.4942
15 Lượt xem
3 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phương pháp học dựa trên nghiên cứu trường hợp kết hợp học dựa trên bài giảng so với phương pháp học dựa trên bài giảng truyền thống trong mô-đun khoa học cơ bản, kỹ năng tự học dựa trên nghiên cứu trường hợp và mức độ hài lòng buổi học dựa trên nghiên cứu trường hợp của sinh viên răng hàm mặt năm thứ nhất.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, có so sánh trước-sau, trên 76 sinh viên răng hàm mặt năm thứ nhất Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Các chỉ số đánh giá gồm điểm học dựa trên bài giảng (Pretest), điểm học dựa trên nghiên cứu trường hợp (Posttest), điểm tự học dựa trên nghiên cứu trường hợp, điểm số hài lòng buổi học dựa trên nghiên cứu trường hợp.

Kết quả: Độ kiên định của sinh viên là 81,3%. Hệ số tương quan nội tại ICC = 0,80 cho thấy tính kiên định tốt. Điểm trung bình học dựa trên nghiên cứu trường hợp là 8,7 ± 0,7 điểm, tăng 2,0 ± 1,7 điểm so với điểm trung bình học dựa trên bài giảng 6,7 ± 1,7 điểm (p < 0,001). Có 77,6% sinh viên có mức độ học lực của điểm học dựa trên nghiên cứu trường hợp cao hơn học dựa trên bài giảng. Điểm trung bình tự học dựa trên nghiên cứu trường hợp là 6,7 ± 1,7 điểm, ở mức độ trung bình (3,9 ± 1,2). Trung bình điểm số hài lòng về 6 buổi học dựa trên nghiên cứu trường hợp là 4,7 điểm (thang Likert 5 điểm), ở mức hài lòng cao.

Kết luận: Phương pháp học dựa trên nghiên cứu trường hợp có hiệu quả vượt trội so với phương pháp học dựa trên bài giảng truyền thống trong mô-đun khoa học cơ bản. Kết quả nghiên cứu cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn để triển khai, mở rộng và chuẩn hóa học dựa trên nghiên cứu trường hợp trong chương trình đào tạo bác sĩ răng hàm mặt.

Tài liệu tham khảo
[1]
Dong H, Guo C, Zhou L et al. Effectiveness of case-based learning in Chinese dental education: a systematic review and meta-analysis. BMJ Open, 2022, 12: e048497. doi: 10.1136/bmjopen2020-048497 Google Scholar
[2]
Lê Văn Minh, Lê Thị Gái và cộng sự. Giảng dạy theo phương pháp học tập dựa trên tình huống (case based learning - CBL) trong đào tạo sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023, 69: 251-264. doi: 10.58490/ctump.2023i69.2220 Google Scholar
[3]
Cervantes J, Dudrey E, Baatar D et al. Improving integration of basic science into clinical medicine: vertical integration into clinical education (VICE) activity. Medical Science Educator, 2022, 32 (1): 47-50. doi: 10.1007/s40670-021-01485-7 Google Scholar
[4]
Kouz K, Eisenbarth S, Bergholz A, Mohr S. Presentation and evaluation of the teaching concept “ENHANCE” for basic sciences in medical education. PLoS One, 2020, 15 (9): e0239928. doi: 10.1371/journal.pone.0239928 Google Scholar
[5]
Saleh S.A.K, Adly H.M. Integrating basic sciences and clinical practice: a cross-sectional study of UQUMED’s medical education approach. Galician Med J, 2024, 31 (1): e-GMJ2024-A02. doi: 10.21802/e-GMJ2024-A02 Google Scholar
[6]
Finnerty E.P, Chauvin S, Bonaminio G et al. Flexner revisited: the role and value of the basic sciences in medical education. Acad Med, 2010, 85 (2): 349-355. doi: 10.1097/ACM.0b013e3181c88b09 Google Scholar
[7]
Oktar S. Basic medical sciences should be mainly taught by clinicians for a tight integration of basic and clinical sciences in medical education. Acta Medica Alanya, 2022, 6 (3): 320-325. doi: 10.30565/medalanya.1159175 Google Scholar
[8]
McLean S.F. Case-based learning and its application in medical and health-care fields: a review of worldwide literature. J Med Educ Curric Dev, 2016, 3: JMECD.S20377. doi: 10.4137/JMECD.S20377. Google Scholar