Bài báo khoa học Tập 67 Số 4 25/04/2026

THỰC TRẠNG TÁO BÓN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN

Phạm Văn Học1,2, Đồng Đức Hoàng1,2
1 Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy
2 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
DOI: 10.52163/yhc.v67i4.4941
22 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng táo bón ở sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên; Phân tích một số yếu tố liên quan đến táo bón trong nhóm sinh viên này.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 776 sinh viên từ năm thứ 1 đến năm thứ 6, thực hiện từ tháng 01 đến tháng 11/2025. Táo bón được xác định theo tiêu chuẩn ROME IV và đặc điểm phân được đánh giá bằng thang điểm Bristol. Các thông tin về nhân khẩu học, chế độ ăn uống, sinh hoạt và yếu tố tâm lý được thu thập bằng bộ câu hỏi tiêu chuẩn. Dữ liệu phân tích bằng SPSS 22.0.

Kết quả: Tỉ lệ táo bón ở sinh viên là 7,0%. Nhiều yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê, bao gồm: tiền sử gia đình táo bón (64,8%), ăn ít chất xơ (77,8%), ít hoạt động thể lực (68,5%), ngủ ≤ 6 giờ/ngày (55,6%) và stress (81,5%) (p < 0,05). Các đặc điểm nhân khẩu học như nhóm tuổi 21–25, ngành học, và sống trọ cũng ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ mắc táo bón. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ.

Kết luận: Tỉ lệ táo bón ở sinh viên không cao nhưng chịu ảnh hưởng rõ rệt của các yếu tố liên quan đến lối sống, đặc biệt là chế độ ăn, vận động, giấc ngủ và stress.

Tài liệu tham khảo
[1]
Aziz I., Whitehead W. E., Palsson O. S., et al (2020). An approach to the diagnosis and management of Rome IV functional disorders of chronic constipation, Expert Rev Gastroenterol Hepatol, 14(1), pp. 39-46. Google Scholar
[2]
Suares N. C., Ford A. C. (2011). Prevalence of, and risk factors for, chronic idiopathic constipation in the community: systematic review and meta-analysis, Am J Gastroenterol, 106(9), pp. 1582-1591; quiz 1581, 1592. Google Scholar
[3]
Anh Lê Quốc, Phước Nguyễn Thiện (2023). Khảo sát đặc điểm táo bón chức năng và nhu cầu điều trị bằng Y học cổ truyền của sinh viên trường đại học y dược, Đại học Huế, Tạp chí y dược Huế, 7(13), pp. 59-65. Google Scholar
[4]
Anh Võ Loan, Trầm Tạ Văn, Đức Võ Hữu (2018). Tỉ lệ táo bón mạn chức năng và các yếu tố liên quan ở trẻ đến khám tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 22(4), pp. 61-68. Google Scholar
[5]
Yến Nguyễn Thị Hoàng, Oanh Trần Thị Hoàng (2021). Táo bón và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tại khoa Nội lão - Bệnh viện C Đà Nẵng, Tạp chí y học lâm sàng, 68, pp. 62-68. Google Scholar
[6]
Hào Nguyễn Thị, Đức Dương Minh, Tuấn Nguyễn Anh, et al (2024). Tình trạng táo bón và các yếu tố liên quan ở người bệnh tại Phòng Hồi sức tích cực, Khoa Nội – Hồi sức Thần kinh, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2023, Tạp chí thần kinh học, 41, pp. 23-31. Google Scholar
[7]
Markland A. D., Palsson O., Goode P. S., et al (2013). Association of low dietary intake of fiber and liquids with constipation: evidence from the National Health and Nutrition Examination Survey, Am J Gastroenterol, 108(5), pp. 796-803. Google Scholar
[8]
Bharucha A. E., Pemberton J. H., Locke G. R., 3rd (2013). American Gastroenterological Association technical review on constipation, Gastroenterology, 144(1), pp. 218-238. Google Scholar
[9]
Belsey J., Greenfield S., Candy D., et al (2010). Systematic review: impact of constipation on quality of life in adults and children, Aliment Pharmacol Ther, 31(9), pp. 938-949. Google Scholar