Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và mức độ áp lực học tập theo thang ESSA ở học sinh trung học phổ thông; phân tích mối liên quan giữa áp lực học tập và tình trạng trầm cảm; xác định các yếu tố liên quan đến áp lực học tập của học sinh trung học phổ thông.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích thực hiện trên 919 học sinh lớp 10-12 tại 4 trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, thu thập số liệu từ tháng 10-12/2023. Sử dụng thang đo ESSA để đánh giá áp lực học tập và thang CES-D để đánh giá trầm cảm.
Kết quả: Tỷ lệ áp lực học tập ở mức thấp, trung bình và cao lần lượt là 42,8%, 35,6% và 21,7%. Tỷ lệ trầm cảm (CES-D > 25) là 12,2%. Có mối liên quan thuận chiều mạnh mẽ giữa hai vấn đề này: học sinh chịu áp lực học tập cao có nguy cơ mắc trầm cảm gấp 5,81 lần so với nhóm áp lực thấp (OR = 5,81; p < 0,001). Phân tích hồi quy đa biến xác định 3 yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng áp lực học tập gồm: giới tính nữ (OR = 2,20), bị gia đình lăng mạ/sỉ nhục (OR = 1,95) và bị giáo viên la mắng/hăm dọa (OR = 2,19). Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa xếp loại học lực và mức độ áp lực học tập.
Kết luận: Hơn 1/5 học sinh đang phải chịu đựng áp lực học tập ở mức cao, và đây là nguyên nhân trọng yếu dẫn đến trầm cảm. Gánh nặng này không phụ thuộc vào năng lực học tập của học sinh mà chịu tác động chính bởi các tương tác tiêu cực (bạo lực tinh thần) từ gia đình và nhà trường. Các can thiệp cần tập trung cải thiện kỹ năng giao tiếp sư phạm và văn hóa ứng xử trong gia đình để giảm thiểu nguy cơ.