Bài báo khoa học Tập 67 Số 4 25/04/2026

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHƯƠNG TRÌNH HỒI PHỤC SỚM SAU PHẪU THUẬT CHO NGƯỜI BỆNH TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN ĐA KHOA CÔNG LẬP TUYẾN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA NĂM 2025

Lâm Tiến Tùng1,2, Nguyễn Hữu Tuấn3,4, Nguyễn Hải Triều5,6, Dương Công Chính7,8, Phạm Văn Ngọc9,10
1 Thanh Hoa provincial General Hospital
2 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa
3 Thieu Hoa General Hospital
4 Bệnh viện Đa khoa Thiệu Hóa
5 Hoang Hoa General Hospital
6 Bệnh viện Đa khoa Hoằng Hóa
7 Ha Trung General Hospital
8 Bệnh viện Đa khoa Hà Trung
9 Thach Thanh General Hospital
10 Bệnh viện Đa khoa Thạch Thành
DOI: 10.52163/yhc.v67i4.4906
33 Lượt xem
13 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng chăm sóc hồi phục sau phẫu thuật và hiệu quả áp dụng chương trình hồi phục sớm sau phẫu thuật (ERAS) cho người bệnh tại một số bệnh viện công lập tuyến cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang khảo sát 132 nhân viên y tế tham gia trực tiếp chăm sóc phẫu thuật và 72 bệnh nhân phẫu thuật kế hoạch, vô cảm bằng phương pháp gây mê toàn thân được áp dụng ERAS tại 4 bệnh viện tuyến cơ sở (Thiệu Hóa, Hoằng Hóa, Hà Trung và Thạch Thành) từ 6-11 năm 2025.

Kết quả: Tỷ lệ nhân viên y tế tham gia chăm sóc phẫu thuật tại 4 bệnh viện trên biết về ERAS là 73,6%, trong số này chưa từng tham gia ERAS. Tỷ lệ được đào tạo ERAS trong nghiên cứu đạt 78,6%. Sau đào tạo, 93,9% nhân viên y tế tin tưởng ERAS quan trọng với quá trình chăm sóc bệnh nhân, và tin tưởng ERAS nên được áp dụng trong bệnh viện của mình. Phẫu thuật nội soi trong nhóm nghiên cứu chiếm 56,9%, có 51,4% bệnh nhân phẫu thuật sản phụ khoa và hầu hết là phẫu thuật nội soi. Tỷ lệ tuân thủ protocol ERAS giai đoạn trước phẫu thuật là 68,3%, trong phẫu thuật là 84%, sau phẫu thuật là 76,1%. Thời gian ăn đường miệng (0,81 ngày), thời gian rút sonde tiểu (0,6 ngày), thời gian rút dẫn lưu (1,27 ngày) đều rất ngắn. Tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu sau phẫu thuật là 2,8%, không có biến chứng lớn khác sau phẫu thuật.

Kết luận: Ứng dụng thành công ERAS vào quá trình chăm sóc phẫu thuật tại các bệnh viện tuyến cơ sở giúp nâng cao năng lực khám chữa bệnh của bệnh viện, đồng thời giảm thiểu các tai biến, biến chứng phẫu thuật cho người bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Abeles A, Kwasnicki R.M, Darzi A. Enhanced recovery after surgery: Current research insights and future direction. World J. Gastrointest. Surg., 2017, 9 (2): 37. Google Scholar
[2]
Lê Huy Lưu. Kết quả ban đầu áp dụng quy trình phục hồi nhanh sau phẫu thuật cắt đại tràng. Tạp chí Nghiên cứu y học thành phố Hồ Chí Minh, 2018, 22 (6): 127-132. Google Scholar
[3]
Ngô Sỹ Quý. Bước đầu đánh giá hiệu quả của chiến lược ERAS trong phẫu thuật đại trực tràng. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2019. Google Scholar
[4]
Nguyễn Văn Thủy. Kết quả ứng dụng chương trình ERAS trong phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 530 (1B): 381-385. Google Scholar
[5]
Nguyễn Quang Huy, Hoàng Khắc Chuẩn và cộng sự. Ứng dụng Chương trình chăm sóc phục hồi sớm sau phẫu thuật (ERAS) cho người bệnh ghép thận. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 2024, 49 (1): 53-63. Google Scholar
[6]
Bộ Y tế. Quyết định số 181/QĐ-BYT ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn nhịn ăn uống và cung cấp carbohydrate trước phẫu thuật chương trình. Google Scholar
[7]
Xue B, Yu H, Luo X. Knowledge of enhanced recovery after surgery and influencing factors among abdominal surgical nurses: a multi-center cross-sectional study. Contemporary Nurse, 2022, 58 (4): 330-342. Google Scholar