Bài báo khoa học Tập 67 Số 4 25/04/2026

ĐÁNH GIÁ CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI VÀ KẾT QUẢ CHU SINH TRONG THAI KỲ SONG THAI TỪ 23 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÁI BÌNH

Bùi Minh Tiến1,2, Đinh Văn Hoành1,2, Đỗ Thị Thương3,4
1 Department of Obstetrics and Gynecology - Thai Binh University of Medicine and Pharmacy
2 Bộ môn Phụ Sản, Trường Đại học Y Dược Thái Bình
3 Thai Binh Obstetrics and Gynecology Hospital
4 Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình
DOI: 10.52163/yhc.v67i4.4900
21 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích chỉ định mổ lấy thai và kết cục chu sinh ở thai kỳ song thai từ 23 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 133 sản phụ mang song thai từ tháng 9/2024 đến tháng 6/2025. Dữ liệu được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến (SPSS 27.0).

Kết quả: Tỷ lệ mổ lấy thai chiếm 84,2%, chủ yếu do ngôi thai bất lợi (63,9%) và bệnh lý mẹ (55,6%). Phân tích hồi quy khẳng định bệnh lý toàn thân của mẹ (p < 0,001) và tuổi thai (p = 0,003) là các yếu tố tiên lượng độc lập đến chỉ định mổ lấy thai. Trọng lượng sơ sinh trung bình dao động từ 2230-2237 gam. Mặc dù tỷ lệ nhập NICU cao (42,1-48,1%), trên 90% trẻ đạt chỉ số Apgar 5 phút tốt (≥ 8 điểm). Tỷ lệ chuyển tuyến duy trì thấp (≤ 6%).

Kết luận: Quyết định mổ lấy thai trong song thai chịu ảnh hưởng lớn bởi sức khỏe mẹ và tuổi thai. Kết cục chu sinh khả quan cho thấy hiệu quả của sự phối hợp sản - nhi tại địa phương.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Viết Tiến. Đa thai. Trong: Bài giảng Sản Phụ khoa, tập 2. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2020: 79-87. Google Scholar
[2]
Nguyễn Duy Ánh. Song thai và vai trò của can thiệp bào thai. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2022. Google Scholar
[3]
Nguyễn Đức Vy. Bài giảng Sản Phụ khoa. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2016: 79-88. Google Scholar
[4]
Vũ Hoàng Lan. Nghiên cứu xử trí song thai chuyển dạ đẻ với tuổi thai từ 28 tuần trở lên tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2015. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Lan Hương. Nhận xét tình hình đẻ song thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong 6 tháng cuối năm 2015. Tạp chí Phụ Sản, 2016, 14 (1): 80-85. Google Scholar
[6]
Bộ Y tế. Quyết định số 4128/QĐ-BYT, ngày 29 tháng 7 năm 2016, về việc phê duyệt tài liệu “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”. Google Scholar
[7]
Ninh Văn Minh, Lê Hải Dương. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí song thai chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình. Tạp Y học thực hành, 2013, 870 (5): 175-176. Google Scholar
[8]
Nguyễn Việt Hùng. Sinh lý chuyển dạ. Trong: Bài giảng Sản Phụ khoa, tập 1. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2020: 83-94. Google Scholar
[9]
Khalil A, Rodgers M et al. ISUOG practice guidelines: role of ultrasound in twin pregnancy. Ultrasound Obstet Gynecol, 2016, 47 (2): 247-63. Google Scholar
[10]
Smith G.C.S, Pell J.P, Dobbie R. Birth order, gestational age, and risk of delivery related perinatal death in twins: retrospective cohort study. BMJ, 2002, 325 (7371): 1004. doi: 10.1136/bmj.325.7371.1004. Google Scholar
[11]
Mai Ngọc Ba, Trương Thị Linh Giang. Nghiên cứu một số biến chứng và kết quả thai kỳ ở các sản phụ song thai. Tạp chí Phụ Sản, 2020, 18 (3): 34-40. Google Scholar
[12]
Võ Thị Kim Quế, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Thái Hoàng. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết cục thai kỳ của sản phụ mang song thai tại Bệnh viện Phụ Sản Cần Thơ. Tạp chí Y Dược Cần Thơ, 2024, 79: 122-128. doi: 10.58490/ctump.2024i79.2857 Google Scholar