Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân trứng cá.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 106 bệnh nhân mắc bệnh trứng cá tại Khoa Da liễu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2025.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ bệnh ở nữ (56.7%) cao hơn ở nam (43.3%). Tuổi trung bình là 20.9 ± 6.6 tuổi, bệnh nhân thuộc nhóm > 20 tuổi chiếm đa số (71.7%). Tình trạng da hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao nhất (38.6%), tiếp theo là da dầu (27.4%), da thường (17.9%), da khô (11.4%), và da nhạy cảm (4.7%). Tổn thương chiếm tỷ lệ cao nhất là sẩn đỏ (87.7%), mụn mủ (50.9%), mụn đầu trắng – mụn đầu đen (46.2%), và cục-nang (2.8%). Theo GAGS, vị trí hay gặp nhất là vùng I (69.8%), vùng II (51.4%), vùng III (59.4%), vùng 4 (53.7%), vùng 5 (51.8%), và vùng VI (29.3%). Tổn thương ở mức độ trung bình chiếm đa số (63.2%), theo sau là mức độ nhẹ (18.9%), tổn thương mức độ nặng chiếm tỉ lệ thấp nhất (17.9%). Nhóm tuổi ≤ 20 (OR = 1.73; CI = 0.60 – 5.01) và cả ba thói quen đều có xu hướng làm tăng nguy cơ bệnh nặng: Thói quen thức khuya (OR = 1.36; CI = 0.28 – 6.64); Thói quen ăn đồ ngọt (OR = 1.59; CI = 0.42 – 6.02); Thói quen nặn mụn (OR = 2.06; CI = 0.43 – 9.08), tuy nhiên mối liên quan không có ý nghĩa thống kê (p > 0.05).
Kết luận: Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là trứng cá sẩn đỏ, mụn mủ. Đa số bệnh nhân mắc trứng cá ở mức độ bệnh trung bình.