Bài báo khoa học Tập 67 Số 4 25/04/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI BỆNH NHÂN TRỨNG CÁ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP NĂM 2025

Phạm Thị Thanh Hòa1,2, Nguyễn Thị Xuân Hương1,2, Nguyễn Thị Thanh Thanh Huyền1,2,3,4, Đặng Tuấn Anh5,6
1 Department of Dermatology, Viet Tiep Friendship Hospital
2 Khoa Da liễu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
3 Department of Dermatology, Haiphong University of Medicine and Pharmacy
4 Khoa Da liễu, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
5 Faculty of Dentistry, Haiphong University of Medicine and Pharmacy
6 Khoa Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
DOI: 10.52163/yhc.v67i4.4887
21 Lượt xem
9 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân trứng cá.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 106 bệnh nhân mắc bệnh trứng cá tại Khoa Da liễu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2025.

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ bệnh ở nữ (56.7%) cao hơn ở nam (43.3%). Tuổi trung bình là 20.9 ± 6.6 tuổi, bệnh nhân thuộc nhóm > 20 tuổi chiếm đa số (71.7%). Tình trạng da hỗn hợp chiếm tỷ lệ cao nhất (38.6%), tiếp theo là da dầu (27.4%), da thường (17.9%), da khô (11.4%), và da nhạy cảm (4.7%). Tổn thương chiếm tỷ lệ cao nhất là sẩn đỏ (87.7%), mụn mủ (50.9%), mụn đầu trắng – mụn đầu đen (46.2%), và cục-nang (2.8%). Theo GAGS, vị trí hay gặp nhất là vùng I (69.8%), vùng II (51.4%), vùng III (59.4%), vùng 4 (53.7%), vùng 5 (51.8%), và vùng VI (29.3%). Tổn thương ở mức độ trung bình chiếm đa số (63.2%), theo sau là mức độ nhẹ (18.9%), tổn thương mức độ nặng chiếm tỉ lệ thấp nhất (17.9%). Nhóm tuổi ≤ 20 (OR = 1.73; CI = 0.60 – 5.01) và cả ba thói quen đều có xu hướng làm tăng nguy cơ bệnh nặng: Thói quen thức khuya (OR = 1.36; CI = 0.28 – 6.64); Thói quen ăn đồ ngọt (OR = 1.59; CI = 0.42 – 6.02); Thói quen nặn mụn (OR = 2.06; CI = 0.43 – 9.08), tuy nhiên mối liên quan không có ý nghĩa thống kê (p > 0.05).

Kết luận: Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là trứng cá sẩn đỏ, mụn mủ. Đa số bệnh nhân mắc trứng cá ở mức độ bệnh trung bình.

Tài liệu tham khảo
[1]
Vasam M, Korutla S, Bohara RA. Acne vulgaris: A review of the pathophysiology, treatment, and recent nanotechnology based advances. Biochem Biophys Rep. 2023 Nov 23;36: 101578. doi: 10.1016/j.bbrep.2023.101578. Google Scholar
[2]
Dréno B, Pécastaings S, Corvec S, Veraldi S, Khammari A, Roques C. Cutibacterium acnes (Propionibacterium acnes) and acne vulgaris: a brief look at the latest updates. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2018 Jun;32 Suppl 2:5-14. doi: 10.1111/jdv.15043. Google Scholar
[3]
Etgu F, Sekerlisoy Tatar G. Risk Factors and Epidemiology of Acne Severity and Acne Scar Development: A Comprehensive Clinical Study. Dermatol Pract Concept. 2025 Oct 1;15(4): e20256108. doi: 10.5826/dpc.1504a6108. Google Scholar
[4]
Na P. T. B., Lan P. T., & Em Đặng V. (2022). Nghiên cứu một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh. Journal of 108 - Clinical Medicine and Phamarcy, 17(4). https://doi.org/10.52389/ydls.v17i4.1232 Google Scholar
[5]
Nguyễn Văn Thường và cs. (2018). Bệnh học da liễu - Tập 2, trang 23-30. NXB Y Học Google Scholar
[6]
Kokandi A. Evaluation of acne quality of life and clinical severity in acne female adults. Dermatol Res Pract. 2010; 2010: 410809. doi: 10.1155/2010/410809. Google Scholar
[7]
Bagatin E, Freitas THP, Rivitti-Machado MC, Machado MCR, Ribeiro BM, Nunes S, Rocha MADD. Adult female acne: a guide to clinical practice. An Bras Dermatol. 2019 Jan-Feb;94(1):62-75. doi: 10.1590/abd1806-4841.20198203. Erratum in: An Bras Dermatol. 2019 Mar-Apr;94(2):255. doi: 10.1590/abd1806-4841.2019940202. Google Scholar
[8]
Kutlu Ö, Karadağ AS, Wollina U. Adult acne versus adolescent acne: a narrative review with a focus on epidemiology to treatment. An Bras Dermatol. 2023 Jan-Feb;98(1):75-83. doi: 10.1016/j.abd.2022.01.006. Google Scholar
[9]
Kuang X, Lin C, Fu Y, Wang Y, Gong J, Chen Y, Liu Y, Yi F. A comprehensive classification and analysis of oily sensitive facial skin: a cross-sectional study of young Chinese women. Sci Rep. 2025 Jan 10;15(1):1633. doi: 10.1038/s41598-024-85000-z. Google Scholar
[10]
Suh DH, Kim BY, Min SU, Lee DH, Yoon MY, Kim NI, Kye YC, Lee ES, Ro YS, Kim KJ. A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea. Int J Dermatol. 2011 Jun;50(6):673-81. doi: 10.1111/j.1365-4632.2010.04726.x. Google Scholar
[11]
Berg M, Lindberg M. Possible gender differences in the quality of life and choice of therapy in acne. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2011 Aug;25(8):969-72. doi: 10.1111/j.1468-3083.2010.03907.x. Google Scholar
[12]
Khormi G, Aldubayyan N, Hakami M, Daghriri S, Aqeel S. Impact of Lifestyle and Dietary Habits on the Prevalence of Acne Vulgaris: A Cross-Sectional Study From Saudi Arabia. Cureus. 2024 Mar 29;16(3):e57200. doi: 10.7759/cureus.57200. Google Scholar
[13]
Kim H, Moon SY, Sohn MY, Lee WJ. Insulin-Like Growth Factor-1 Increases the Expression of Inflammatory Biomarkers and Sebum Production in Cultured Sebocytes. Ann Dermatol. 2017 Feb;29(1):20-25. doi: 10.5021/ad.2017.29.1.20. Google Scholar
[14]
Schrom KP, Ahsanuddin S, Baechtold M, Tripathi R, Ramser A, Baron E. Acne Severity and Sleep Quality in Adults. Clocks Sleep. 2019 Dec 6;1(4):510-516. doi: 10.3390/clockssleep1040039. Google Scholar
[15]
Samaniego M, Alonso M, Sohail N, Mostaghimi L. Sleep Disturbances and Acne: A Comprehensive Review. Dermatol Pract Concept. 2025 Oct 1;15(4):e20255530. doi: 10.5826/dpc.1504a5530. Google Scholar