Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá tương quan giữa homocysteine (đại diện của viêm - stress oxy hóa) và các chỉ số glycat hóa (đại diện chuyển hóa đường).
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 233 bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường đủ từ 18 tuổi trở lên khám ngoại trú tại Khoa Khám Bệnh của Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chính Minh - Cơ sở 2. Các đặc điểm lâm sàng (tuổi, giới tính, BMI, huyết áp, thời gian mắc đái tháo) đường type 2 được ghi nhận đồng thời với các thông số cận lâm sàng như bilan lipid máu, các chỉ số glycat hóa (xét nghiệm đường huyết lúc đói, HbA1c, fructosamine và khoảng trống glycat hóa), creatinine và cystatin C huyết tương để đánh giá độ lọc cầu thận ước đoán (eGFR), UACR để đánh giá mức độ albumin niệu, homocysteine.
Kết quả: 233 bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường có tuổi trung bình 64,0 ± 10,4 tuổi, nữ giới chiếm ưu thế. eGFR trung bình 50,7 ± 25,5 mL/phút/1,73 m2, UACR trung bình là 341,4 ± 671,5 mg/g, homocysteine trung bình 14,9 ± 6,2 µmol/L. Homocysteine có tương quan nghịch yếu với HbA1c (glycat hóa nội bào) (r = -0,158, p = 0,016) nhưng không có tương quan với fructosamin (glycat hóa ngoại bào). Homocysteine cũng có tương quan nghịch yếu với khoảng trống glycat hóa (r = -0,144, p = 0,028).
Kết luận: Homocysteine có tương quan nghịch yếu với HbA1c và khoảng trống glycat hóa, nhưng không có tương quan với fructosamine. Điều này gợi ý homocysteine có liên quan đến những sản phẩm glycat hóa bền vững (HbA1c), nhưng có thể không liên quan đến những sản phẩm glycat hóa có thời gian bán thải ngắn.