Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ4-HN Ký sinh trùng-HN Hóa sinh 2026 21/04/2026

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ DINH DƯỠNG TIÊN LƯỢNG, TỶ LỆ HEMOGLOBIN/ĐỘ RỘNG PHÂN BỐ HỒNG CẦU VÀ NGUY CƠ NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ

Trần Thị Bảo Uyên1,2, Vũ Trí Thanh1,2, Võ Văn Hải1,2, Lê Quốc Tuấn3,4
1 Thu Duc General Hospital
2 Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức
3 University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh city
4 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD4.4858
16 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa chỉ số dinh dưỡng tiên lượng, tỷ lệ hemoglobin/độ rộng phân bố hồng cầu với nguy cơ nhập viện và xây dựng mô hình dự đoán khả năng nhập viện ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 157 bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Nhập viện ít nhất 1 lần trong thời gian nghiên cứu là biến kết cục chính. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập. Độ phù hợp của mô hình được đánh giá bằng kiểm định Hosmer-Lemeshow và biểu đồ rừng.

Kết quả: Tuổi trung bình 53,4 ± 14,2 năm, nam chiếm 53,5%. Tỷ lệ nhập viện là 54,7%, chủ yếu do bệnh tim mạch (56,4%). Nhóm nhập viện có chỉ số dinh dưỡng tiên lượng thấp hơn đáng kể so với nhóm không nhập viện (p = 0,014). Trong mô hình đa biến, chỉ số dinh dưỡng tiên lượng là yếu tố tiên lượng độc lập liên quan đến nguy cơ nhập viện (OR = 0,93; KTC 95%: 0,87-1,00; p = 0,05), trong khi tỷ lệ hemoglobin/độ rộng phân bố hồng cầu và các yếu tố khác không còn ý nghĩa thống kê. Mô hình cho thấy độ phù hợp.

Kết luận: Chỉ số dinh dưỡng tiên lượng là chỉ số đơn giản, chi phí thấp, có giá trị dự đoán độc lập nguy cơ nhập viện ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Mark P.B et al. Global, regional, and national burden of chronic kidney disease in adults, 1990-2023, and its attributable risk factors: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2023. Lancet, 2025, 406 (10518): 2461-2482. doi: 10.1016/S0140-6736(25)01853-7. Google Scholar
[2]
Yin C et al. Comparison of hospitalization cause and risk factors between patients undergoing hemodialysis and peritoneal dialysis. Medicine (Baltimore), 2022, 101 (48): e31186. doi: 10.1097/MD.0000000000031186. Google Scholar
[3]
Xu F et al. Combined predictive value of prognostic nutritional index and neutrophil to lymphocyte ratio for all-cause mortality risk in maintenance hemodialysis patients: a cohort study followed for 5 years. BMC Nephrology, 2025, 26 (1): 319. doi: 10.1186/s12882-025-04273-2. Google Scholar
[4]
Krongsut S et al. Unlocking the potential of HB/RDW ratio as a simple marker for predicting mortality in acute ischemic stroke patients after thrombolysis. Journal of Stroke and Cerebrovascular Diseases, 2024, 33 (9): 107874. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2024.107874. Google Scholar
[5]
Tanaka M et al. Hospitalization for patients on combination therapy with peritoneal dialysis and hemodialysis compared with hemodialysis. Kidney Int Rep, 2020, 5 (4): 468-474. doi: 10.1016/j.ekir.2020.01.004. Google Scholar
[6]
Nguyễn Văn Huynh và cộng sự. Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2022-2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2024, (76): 48-53. doi: 10.58490/ctump.2024i76.2453 Google Scholar
[7]
Lê Thanh Toàn và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 552 (1): 184-189. doi: 10.51298/vmj.v552i1.14890 Google Scholar
[8]
Châu Thị Thảo Nguyên và cộng sự. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và khẩu phần ăn của bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thống Nhất. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 515 (1): 342-346. doi: 10.51298/vmj.v515i1.2740 Google Scholar
[9]
Andreew-Gamza M et al. Nutritional status of hemodialysis patients assessed using nPCR and Onodera’s prognostic nutritional index. Medical Science Pulse, 2025, 19 (2): 43-51. doi: 10.5604/01.3001.0055.136 Google Scholar