Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ4-HN Ký sinh trùng-HN Hóa sinh 2026 21/04/2026

ỨNG DỤNG CHỈ SỐ THIỂU CƠ TỪ XÉT NGHIỆM CHỨC NĂNG THẬN TRONG DỰ BÁO THIỂU CƠ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2

Đoàn Trúc Quỳnh1,2, Nguyễn Thị Lệ3,4, Lê Quốc Tuấn3,4
1 School of Medicine, University of Medicine and Pharmacy of Ho Chi Minh City
2 Trường Y, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
3 Faculty of Medicine, Van Lang University
4 Khoa Y, Trường Đại học Văn Lang
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD4.4854
20 Lượt xem
8 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa chỉ số thiểu cơ với sức khỏe cơ và đánh giá giá trị bổ sung của chỉ số thiểu cơ trong mô hình dự báo thiểu cơ.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 74 bệnh nhân đái tháo đường type 2 từ 50 tuổi trở lên, khám tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2 từ tháng 5-10/2025. Thiểu cơ được chẩn đoán theo AWGS 2025 (ASM/BMI và lực bóp tay thấp). Chỉ số thiểu cơ được tính bằng creatinine huyết thanh × eGFRcys, trong đó eGFRcys theo công thức CKD-EPI (2012) dựa trên cystatin C. Hiệu suất chẩn đoán của mô hình truyền thống (mô hình 1) và mô hình kết hợp chỉ số thiểu cơ (mô hình 2) được đánh giá bằng đường cong ROC.

Kết quả: Tỷ lệ thiểu cơ và thiểu cơ nặng lần lượt là 41,9% và 12,2%. Chỉ số thiểu cơ tương quan thuận với ASM/BMI (r = 0,38, p < 0,001) và lực bóp tay (r = 0,52, p < 0,001). Việc bổ sung chỉ số thiểu cơ giúp tăng độ chính xác chẩn đoán từ AUC = 0,8492 (mô hình 1) lên AUC = 0,8807 (mô hình 2). Chỉ số thiểu cơ là yếu tố dự báo độc lập (OR = 1,06; p = 0,018)

Kết luận: Chỉ số thiểu cơ là dấu ấn hóa sinh hữu ích, giúp nâng cao độ chính xác chẩn đoán thiểu cơ khi kết hợp với các phương pháp truyền thống và có tiềm năng ứng dụng tầm soát thực tế tại các phòng khám ngoại trú.

Tài liệu tham khảo
[1]
Lee Y.H, Kim J.S, Jung S.W et al. Gait speed and handgrip strength as predictors of all-cause mortality and cardiovascular events in hemodialysis patients. BMC Nephrol, 2020, 21 (1): 166. doi: 10.1186/s12882-020-01831-8 Google Scholar
[2]
Zheng X, Ren X, Jiang M, Han L, Zhong C. Association of sarcopenia with rapid kidney function decline and chronic kidney disease in adults with normal kidney function. British Journal of Nutrition, 2024, 131 (5): 821-828. doi: 10.1017/S0007114523002313 Google Scholar
[3]
Yim J, Son N.H, Kim K.M et al. Establishment of muscle mass-based indications for the cystatin C test in renal function evaluation. Front Med (Lausanne), 2022, 9: 1021936. doi: 10.3389/fmed.2022.1021936 Google Scholar
[4]
Hanna P.E, Ouyang T, Tahir I et al. Sarcopenia, adiposity and large discordance between cystatin C and creatinine‐based estimated glomerular filtration rate in patients with cancer. J Cachexia Sarcopenia Muscle, 2024, 15 (3): 1187-1198. doi: 10.1002/jcsm.13469 Google Scholar
[5]
Lin Y.L, Wang C.H, Chang I.C, Hsu B.G. A novel application of serum creatinine and cystatin C to predict sarcopenia in advanced CKD. Front Nutr, 2022, 9: 828880. doi: 10.3389/fnut.2022.828880 Google Scholar
[6]
Silva-Tinoco R, Castillo-Martínez L, Cabrera-Victoria B et al. Prevalence of diabetes-related sarcopenia and its defining components within primary care: a cross-sectional study. Diabetes Epidemiology and Management, 2025, 18: 100252. doi: 10.1016/j.deman.2025.100252 Google Scholar
[7]
Lin T, Jiang T, Huang X et al. Diagnostic test accuracy of serum creatinine and cystatin C-based index for sarcopenia: a systematic review and meta-analysis. Age Ageing, 2024, 53 (1): afad252. doi: 10.1093/ageing/afad252 Google Scholar
[8]
Tang T, Xie L, Hu S et al. Serum creatinine and cystatin C-based diagnostic indices for sarcopenia in advanced non-small cell lung cancer. J Cachexia Sarcopenia Muscle, 2022, 13 (3): 1800-1810. doi: 10.1002/jcsm.12977 Google Scholar