Mục tiêu: Xác định căn nguyên vi khuẩn, tình trạng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn điển hình phân lập được ở bệnh phẩm nước tiểu và 1 số yếu tố liên quan.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu phân lập được trong các mẫu bệnh phẩm nước tiểu tại bệnh viện A Thái Nguyên từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024.
Kết quả: Tỉ lệ Escherichia coli kháng cao nhất đối với levofloxacin (93,48%), kháng ampicilin là (86,96%), kháng thấp nhất đối với ceftazidime/avibactam là (4%). Ngược lại Escherichia coli lại nhạy cảm với ceftazidime/avibactam là (96%), với amikacin là (89,1%), meropenem (86,96%), các kháng sinh khác dao động từ 30-60%. Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa kháng kháng sinh rất cao, tỉ lệ kháng 100% đối với amikacin, aztreonam, cefepime, ceftazidime, ciprofloxacin, colistin, levofloxacin, meropenem; tỉ lệ kháng 80% đối với imipenem và meropenem. Vi khuẩn Enterobacter cloacae kháng hầu hết với tất cả các loại kháng sinh thử nghiệm, kháng với ampicillin, aztreonam, cefepime, cefotaxime, ceftazidime, ceftriaxone, cefuroxime, ciprofloxacin, gentamicin, levofloxacin, piperacillin/tazobactam; trimethoprim/sulfamethoxazole là 100%; vi khuẩn đề kháng thấp nhất với amikacin là 40%
Kết luận: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ kháng kháng sinh ở một số vi khuẩn thường gây NKĐTN là rất cao, đặc biệt là Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae, Escherichia coli. Tỉ lệ chủng đa kháng rất cao ở các vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự cần thiết tiến hành các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn để hạn chế tình trạng kháng kháng sinh, và quan tâm nhất là các chủng đa kháng.