Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ4-HN Ký sinh trùng-HN Hóa sinh 2026 14/04/2026

CĂN NGUYÊN VI KHUẨN VÀ TÌNH TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN PHÂN LẬP ĐƯỢC Ở BỆNH PHẨM NƯỚC TIỂU TẠI BỆNH VIỆN A THÁI NGUYÊN NĂM 2024

Nguyễn Văn Phúc1,2, Đoàn Thị Nguyệt Linh1,2, Nguyễn Vân Thu1,2, Lý Thị Bắc3,4, Trần Thị Hường1,2
1 Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy
2 Trường Đại Học Y Dược- Đại Học Thái Nguyên
3 Thai Nguyen Hospital A
4 Bệnh viện A Thái Nguyên
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD4.4815
21 Lượt xem
4 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định căn nguyên vi khuẩn, tình trạng đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn điển hình phân lập được ở bệnh phẩm nước tiểu và 1 số yếu tố liên quan.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu phân lập được trong các mẫu bệnh phẩm nước tiểu tại bệnh viện A Thái Nguyên từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024.

Kết quả: Tỉ lệ Escherichia coli kháng cao nhất đối với levofloxacin (93,48%), kháng ampicilin là (86,96%), kháng thấp nhất đối với ceftazidime/avibactam là (4%). Ngược lại Escherichia coli lại nhạy cảm với ceftazidime/avibactam là (96%), với amikacin là (89,1%), meropenem (86,96%), các kháng sinh khác dao động từ 30-60%. Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa kháng kháng sinh rất cao, tỉ lệ kháng 100% đối với amikacin, aztreonam, cefepime, ceftazidime, ciprofloxacin, colistin, levofloxacin, meropenem; tỉ lệ kháng 80% đối với imipenem và meropenem. Vi khuẩn Enterobacter cloacae kháng hầu hết với tất cả các loại kháng sinh thử nghiệm, kháng với ampicillin, aztreonam, cefepime, cefotaxime, ceftazidime, ceftriaxone, cefuroxime, ciprofloxacin, gentamicin, levofloxacin, piperacillin/tazobactam; trimethoprim/sulfamethoxazole là 100%; vi khuẩn đề kháng thấp nhất với amikacin là 40%

Kết luận: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ kháng kháng sinh ở một số vi khuẩn thường gây NKĐTN là rất cao, đặc biệt là Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae, Escherichia coli. Tỉ lệ chủng đa kháng rất cao ở các vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter cloacae. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự cần thiết tiến hành các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn để hạn chế tình trạng kháng kháng sinh, và quan tâm nhất là các chủng đa kháng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Quế Anh Trâm (2022). “Khảo sát tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu phân lập được tại Bệnh Viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ An (1/2020 – 12/2020)”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam – B, 65(7):12–16. DOI:10.31276/VJST.65(7).12-16 Google Scholar
[2]
Phan Thị Lụa (2020). “Tỉ lệ nhiễm và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh Viện Hữu Nghị Đa Khoa Tỉnh Nghệ An năm 2020”. Google Scholar
[3]
Trinh Ngoc Thao Vy, Tran Thi Thu Hien, Bui Le Minh Trieu & Lam Vinh Nien. Prevalence of urinary tract infections and epidemiological characteristics at Tay Nguyen University Hospital. Sarcouncil Journal of Internal Medicine and Public Health. 2025;4(4):19–24. DOI:10.5281/zenodo.17011925. Google Scholar
[4]
Lê Hạ Hải Long (2021). “Đặc điểm phân bố của các vi khuẩn gây bệnh phân lập từ bệnh phẩm nước tiểu của người bệnh điều trị tại bệnh viện quân y 103 (9/2022-3/2023)”. Tạp chí Y học Việt Nam; 503(1): 78–84 Google Scholar
[5]
Lê Hạ Hải Long, Nguyễn Văn An (2021). “ Đặc điểm dịch tễ và căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu tại Bệnh viện Quân y 103”. Tạp chí Y học Quân sự.; (346): 32–38. Google Scholar
[6]
Phan Thị Lụa, Trần Anh Đào, Nguyễn Vũ Trung (2020). “Thực trạng nhiễm khuẩn tiết niệu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nghệ An năm 2020”. Tạp chí Y học Việt Nam. 2020; 492(2): 90–96 Google Scholar
[7]
Niranjan V, Malini A (2014). “Antimicrobial resistance pattern in Escherichia coli causing urinary tract infection among inpatients”. Indian Journal of Medical Research.139(6): 945–948 Google Scholar
[8]
Phạm Hiền Anh, Phạm Minh Hưng (2022). Tình hình kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Thu Cúc giai đoạn 2018–2019. Tạp chí Y dược lâm sàng 108 – Clinical Medicine and Pharmacy. 17(3), tr. 156–163. Google Scholar
[9]
Banerjee P, Jaggi T, Haider M, Mishra B, Thakur A (2014). “Prevalence of carbapenemases and metallo-β-lactamases in clinical isolates of Enterobacter cloacae”. Google Scholar
[10]
Journal of Clinical and Diagnostic Research; 8(11): DM01–DM02.doi:10.7860/JCDR/2014/9485.5182. Google Scholar
[11]
Hafiz, T. A., Albloshi, A., Alhumaidan, O. S., Mubaraki, M. A., Alyami, A. S., Alrashoudi, R., Alrabiah, M. A., & Alotaibi, F. (2023). The epidemiological pattern, resistance characteristics and clinical outcome of Enterobacter cloacae: Recent updates and impact of COVID-19 pandemic. Healthcare, 11(3), tr. 312. Google Scholar
[12]
Quế Anh Trâm (2025). Nghiên cứu sự kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu phân lập được tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp chí Y học lâm sàng – Bệnh viện Trung ương Huế.71, tr. 109–115. Google Scholar