Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ4-HN Ký sinh trùng-HN Hóa sinh 2026 14/04/2026

TỈ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI TOXOCARA SPP. Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA, NĂM 2024

Thân Trọng Quang1,2, Nguyễn Huyền Trang3,4
1 Tay Nguyen University
2 Trường Đại học Tây Nguyên
3 Ba Ria Vung Tau Provincial Center for Disease Control
4 Trung Tâm kiểm soát Bệnh Tật tỉnh Bà Rịa Vũng Tầu
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD4.4790
43 Lượt xem
12 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo (Human Toxocariasis), gây ra bởi ấu trùng Toxocara spp., là bệnh lây truyền từ động vật sang người qua đường tiêu hoá. Bệnh thường biểu hiện dưới dạng dương tính huyết thanh không triệu chứng hoặc các hội chứng nghiêm trọng như Ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM). Tỷ lệ lưu hành cao ở Việt Nam và các yếu tố hành vi (như nuôi chó mèo, vệ sinh) là mối quan ngại về sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy nghiên cứu này tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Mục tiêu: (i) Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara spp.. (ii). Mô tả một số yếu tố liên quan đến huyết thanh dương tính với kháng thể IgG kháng Toxocara spp.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 506 bệnh nhân tại Bệnh viện Bà Rịa. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn KAP và xét nghiệm ELISA để chẩn đoán IgG kháng Toxocara spp., cùng với chỉ số bạch cầu áii toan (BCAT). Phân tích thống kê sử dụng hồi quy logistics để xác định tỷ số chênh (OR) của một số yếu tố nguy cơ độc lập.

Kết quả: 1.Tỷ lệ huyết thanh dương tính chung là 16,0% (81/506). 2. Có bốn yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê được xác định: Không tẩy giun cho vật nuôi (OR = 3,08; p < 0,001) là yếu tố nguy cơ mạnh nhất; Tăng BCAT (OR = 2,45; p < 0,001); Nghề nghiệp nông nghiệp và Buôn bán nhỏ (OR = 1,96; p = 0,004) và  thường xuyên ăn rau sống (OR = 1,52; p = 0,019).

Kết luận: Tỷ lệ phơi nhiễm Toxocara spp. tại điểm nghiên cứu là 16,0%. Các yếu tố nguy cơ hành vi và môi trường (đặc biệt là quản lý vật nuôi kém) đóng vai trò chủ đạo. Cần tăng cường giáo dục về tẩy giun định kỳ cho vật nuôi và vệ sinh thực phẩm để kiểm soát lây nhiễm.

Tài liệu tham khảo
[1]
Rostami, A., et al. (2019). Global prevalence of toxocariasis in humans: A systematic review and meta-analysis. Infectious Diseases of Poverty, 8(1), 1-13. Google Scholar
[2]
Pawłowski, Z., et al. (2001). Toxocariasis in Humans: Clinical Aspects, Diagnosis and Treatment. WHO/PAHO Technical Report. Google Scholar
[3]
Despommier, D. (2003). Toxocariasis: clinical aspects, epidemiology, medical ecology, and molecular aspects. Clinical Microbiology Reviews, 16(2), 265-272. Google Scholar
[4]
Minh, P. H., et al. (2018). Seroprevalence and associated factors of human toxocariasis in a rural area of Southern Vietnam. BMC Infectious Diseases, 18(1), 1-7. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thanh Thế. (2020). Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó (Toxocara canis) ở người tại một số xã huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Luận văn Thạc sĩ. Google Scholar
[6]
Overgaauw, P. A. M., et al. (2013). Zoonotic aspects of Toxocara spp.: unravelling the continuously changing puzzle. Veterinary Parasitology, 193(3), 396-403. Google Scholar
[7]
Magnaval, J. F., et al. (2001). Toxocara and human health: a review. Current Opinion in Infectious Diseases, 14(5), 603-608. Google Scholar
[8]
Chen, J., et al. (2019). Soil contamination with Toxocara spp. eggs in public places: a systematic review and meta-analysis. Parasites & Vectors, 12(1), 1-13. Google Scholar
[9]
WHO (World Health Organization). (Latest Edition). Guidelines for the integrated control of neglected zoonotic diseases. Google Scholar
[10]
Đặng Thị Mỹ Hạnh. (2021). Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh giun đũa chó mèo ở người. Tài liệu tập huấn chuyên ngành Ký sinh trùng. Google Scholar