Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ3-NCKH 02/04/2026

PHÂN TÍCH CHI PHÍ BẢO HIỂM Y TẾ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TĂNG HUYẾT ÁP NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, CƠ SỞ 2

Nguyễn Tấn Anh1,2, Nguyễn Thanh Tâm1,2, Trương Minh Mẫn1,2
1 University Medical Center Ho Chi Minh City, Campus 2
2 Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Cơ sở 2
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD3.4744
35 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm phân tích chi phí bảo hiểm y tế cho bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020-2023 và xác định một số yếu tố liên quan đến biến động chi phí.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Sử dụng số liệu sẵn có hồi cứu từ cơ sở dữ liệu thanh toán bảo hiểm y tế các năm 2020-2023. Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm Stata 16.0.

Kết quả: Chi phí bảo hiểm y tế trung bình tăng lên 1.532.000 đồng năm 2021, sau đó giảm dần xuống còn 996.019 đồng năm 2023. Chi phí trung bình ở nữ cao hơn so với nam năm 2022 và 2023, nhóm ≥ 80 tuổi có mức chi cao nhất, nhóm thẻ bảo hiểm y tế do ngân sách nhà nước đóng có mức chi cao nhất và bệnh nhân có biến chứng hoặc bệnh đi kèm có mức chi cao hơn so với nhóm tăng huyết áp nguyên phát đơn thuần. Sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết luận: Chi phí bảo hiểm y tế trung bình cho điều trị ngoại trú tăng huyết áp biến động qua các năm. Mức chi bảo hiểm y tế chịu ảnh hưởng bởi giới tính, tuổi, nhóm thẻ bảo hiểm y tế và tình trạng bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Levy H, Meltzer D. The impact of health insurance on health. Annu Rev Public Health, 2008, 29: 399-409. doi: 10.1146/annurev.publhealth.28.021406.144042. Google Scholar
[2]
Chính phủ. 2020. Nghị định số 89/2020/NĐ-CP, ngày 04 tháng 8 năm 2020, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Google Scholar
[4]
Bộ Y tế. Nâng cao hiệu quả quản lý, điều trị bệnh không lây nhiễm tại tuyến cơ sở tỉnh Phú Thọ, 2025. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-ieu-tri-benh-khong-lay-nhiem-tai-tuyen-co-so-tinh-phu-tho Google Scholar
[5]
Basu R, Franzini L et al. Gender disparities in medical expenditures attributable to hypertension in the United States. Womens Health Issues, 2010, 20 (2): 114-125. doi: 10.1016/j.whi.2009.12.001. Google Scholar
[6]
Huegli S et al. Hypertension in women: what is different? Cardiovascular Medicine, 2023, 26 (3): 74-78. doi: 10.4414/cvm.2023.02267 Google Scholar
[7]
Sorato M.M, Davari M et al. Societal economic burden of hypertension at selected hospitals in Southern Ethiopia: a patient-level analysis. BMJ Open, 2022, 12 (4): e056627. doi: 10.1136/bmjopen-2021-056627. Google Scholar
[8]
Lien C.W, Lee Y.H et al. Definition, prevalence, and economic impacts of hypertension on the elderly population. Journal of the Formosan Medical Association, 2025, 124: S4-S9. doi: 10.1016/j.jfma.2025.02.020 Google Scholar
[9]
Theodorakopoulou M, Ortiz A et al. Guidelines for the management of hypertension in CKD patients: where do we stand in 2024? Clin Kidney J, 2024, 17(Suppl 2): 36-50. doi: 10.1093/ckj/sfae278. Google Scholar