Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ3-NCKH 02/04/2026

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ SUY TIM THEO HƯỚNG DẪN CỦA BỘ Y TẾ (2022) TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG

Trần Thanh Tuấn1,2, Phan Tấn Tài1,2
1 Trung Vuong Hospital
2 Bệnh viện Trưng Vương
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD3.4734
17 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định việc điều trị suy tim theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Bệnh viện Trưng Vương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 119 bệnh nhân suy tim. Phân tích hồi quy logistic và hồi quy tuyến tính được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phân suất tống máu giảm và tổng số nhóm thuốc sử dụng.

Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân được tiếp cận với các nhóm thuốc trụ cột ở mức rất cao: ức chế hệ renin-angiotensin (92,4%), ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2  (90,8%), kháng aldosterone (84,8%) và chẹn bêta (82,4%). Có 61,3% bệnh nhân đạt chuẩn phối hợp 4 thuốc trụ cột. Nhóm ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 đạt tỷ lệ liều đích tối ưu (89,9%). Ngược lại, các nhóm ức chế hệ renin-angiotensin, chẹn bêta và kháng aldosterone có tỷ lệ đạt liều đích dưới 1%. Bệnh thận mạn là yếu tố cản trở duy nhất có ý nghĩa thống kê làm giảm số lượng nhóm thuốc phối hợp (hệ số hồi quy B = -0,670; p < 0,001).

Kết luận: Bệnh viện Trưng Vương đã đạt được thành công trong việc triển khai đa trị liệu sớm cho bệnh nhân suy tim, đặc biệt là ưu thế của nhóm ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt liều đích các thuốc truyền thống còn thấp, đòi hỏi chiến lược chỉnh liều cá thể hóa.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bộ Y tế. Quyết định số 1857/QĐ-BYT ngày 05 tháng 7 năm 2022 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị suy tim cấp và mạn”. Google Scholar
[2]
Đỗ Doãn Lợi. Suy tim trong kỷ nguyên y học cá thể hóa và chuyển đổi số. Tài liệu Hội nghị Khoa học toàn quốc Phân hội Suy tim (Hội Tim mạch Việt Nam) lần thứ II, thành phố Hồ Chí Minh, 13/12/2025. Google Scholar
[3]
Lê Minh Trí. Điều trị suy tim phân suất tống máu giảm theo khuyến cáo hội Tim Mạch Việt Nam tại Bệnh viện Tâm Đức. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 2023. Google Scholar
[4]
Nguyễn Ngọc Thanh Vân và cộng sự. Khảo sát điều trị suy tim theo khuyến cáo của Hội Tim mạch châu Âu. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh 2016, 2021, 25 (2): 35-41. doi: 10.34810/vjs2021206. Google Scholar
[5]
Greene S.J et al. Medical therapy for heart failure with reduced ejection fraction: the CHAMP-HF registry. Journal of the American College of Cardiology, 2018, 72 (4): 351-366. doi: 10.1016/j.jacc.2018.04.070. Google Scholar
[6]
Patil T et al. Impact of pharmacist-led heart failure clinic on optimization of guideline-directed medical therapy (PHARM-HF). Journal of Cardiovascular Translational Research, 2022, 15 (6): 1424-1435. doi: 10.1007/s12265-022-10262-9. Google Scholar
[7]
Linssen G.C et al. Regional variations in heart failure care: evidence from the CHECK-HF registry. JACC: heart failure, 2022, 10 (4), 278-287. doi: 10.1016/j.jchf.2022.01.003. Google Scholar
[8]
MacDonald M.R, Tay W.T et al. Regional variation of mortality in heart failure with reduced and preserved ejection fraction across ASIA: outcomes in the ASIAN‐HF registry. Journal of the American Heart Association, 2020, 9 (1): e012199. doi: 10.1161/JAHA.119.012199. Google Scholar
[9]
Mai Xuân Tiến và cộng sự. Sử dụng thuốc ức chế SGLT2 ở bệnh nhân suy tim mạn phân suất tống máu giảm theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 546 (3): 325-329. doi: 10.51298/vmj.v546i3.12767. Google Scholar