Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ3-NCKH 02/04/2026

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG BỆNH NẤM DA CỦA NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA DA LIỄU, BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN NĂM 2025

Lê Thị Thanh Hoa1,2,3,4, Phạm Thu Hiền1,2,3,4, Nguyễn Văn Công2,4, Trương Thị Thùy Duong1,3
1 Thai Nguyen university of Medicine and Pharmacy
2 Department of Dermatology, Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy Hospital
3 Trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên
4 Khoa Da liễu, bệnh viện trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD3.4729
18 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành dự phòng bệnh nấm da của người bệnh đến khám và điều trị tại Khoa Da liễu, Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng bệnh nấm da.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 402 người bệnh từ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị tại Khoa Da liễu, Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên trong năm 2025. Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi cấu trúc sẵn. Dữ liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 27.0.

Kết quả: Đa số người bệnh đã từng nghe nói về bệnh nấm da (91,8%) và có kiến thức tương đối tốt về nguồn lây, yếu tố thuận lợi và biểu hiện lâm sàng của bệnh. Tuy nhiên, kiến thức về điều trị và dự phòng còn hạn chế, chỉ 68,4% biết cần sử dụng thuốc kháng nấm và 52,2% biết không nên sử dụng chế phẩm bôi có corticoid. Về thực hành, tỷ lệ không dùng chung quần áo đạt 93,3%, song vẫn còn 28,4% dùng chung đồ dùng cá nhân và 61,2% tự mua thuốc điều trị khi mắc bệnh. Nhóm tuổi trên 40 có tỷ lệ thực hành dự phòng chưa tốt cao hơn nhóm 18–40 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Kết luận: Kiến thức và thực hành dự phòng bệnh nấm da của người bệnh còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong sử dụng thuốc và kiểm soát nguồn lây bệnh. Cần xây dựng các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe có trọng điểm, tập trung vào thực hành dự phòng, sử dụng thuốc hợp lý và phòng ngừa tái phát, đặc biệt cho nhóm người bệnh lớn tuổi.

Tài liệu tham khảo
[1]
Cole DC, Govender NP, Chakrabarti A, Sacarlal J, Denning DW. Improvement of fungal disease identification and management: combined health systems and public health approaches. The Lancet Infectious Diseases. 2017;17(12):e412-e9. DOI: 10.1016/S1473-3099(17)30308-0 Google Scholar
[2]
Đặng Văn Em. Các bệnh nấm. Giáo trình da liễu, tập 2,: Nhà xuất bản Y học; 2017. Google Scholar
[3]
Ma Y, Cen W, Duan M, Yang J, Wang Y, Gao L, et al. Patients knowledge attitudes and practices regarding superficial fungal infections suggest public health and patient education are warranted. Scientific Reports. 2025;15(1):15112. DOI: doi.org/10.1038/s41598-025-98919-8 Google Scholar
[4]
Chopra P, Aulakh S, Goel S, Chopra D. KAP survey in patients of dermatophytosis in a tertiary care hospital: a cross-sectional study. International Journal Of Community Medicine And Public Health. 2023;10(7):2441-6. DOI: 10.18203/2394-6040.ijcmph20232034 Google Scholar
[5]
Đỗ Thị Mỹ Hạnh, Hồ Hoàng Anh, Lê Phúc Trường Tân, Phạm Thị Lan Anh, Nguyễn Duy Bảo. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm da tại Bệnh viện Trường đại học Y Dược Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2024(75):64-71. DOI: 10.58490/ctump.2024i75.2431 Google Scholar
[6]
Nguyễn Thị Quỳnh, Trần Đăng Quyết. Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nấm da điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 9/2021 đến tháng 6/2022. Tạp chí Y Dược học Quân sự. 2022;47(7):80-90. DOI: 10.56535/jmpm.v47i7.77 Google Scholar
[7]
Yamu S, Choudhary D, Aryal S. Knowledge Attitude And Practice Regarding Superficial Fungal Infections In Dermatology Patients In Eastern Nepal. Birat Journal of Health Sciences. 2024;8:2096-101. DOI: 10.62065/bjhs466 Google Scholar