Mục tiêu: So sánh một số đặc điểm giữa cholesteatoma bẩm sinh và mắc phải trong lệnh lý tai giữa ở trẻ em.
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả, từng ca bệnh (tiến cứu và hồi cứu), được tiến hành trên 65 bệnh nhân tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương, thời gian nghiên cứu từ 2020-2025.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ trẻ nam nhiều hơn nữ trong cả 2 nhóm bẩm sinh và mắc phải. Tuổi trung bình chẩn đoán của trẻ nhóm bẩm sinh (5,15 ± 3,28) thấp hơn nhóm mắc phải (9,0 ± 3,74). Lý do đến khám của nhóm bẩm sinh đa phần được phát hiện tình cờ (78,7%), khác với mắc phải thường có các vấn đề về tai: chảy mủ tai 59,3% hoặc đau nhức tai, giảm thính lực (25%). Đặc điểm tổn thương trên nội soi nhóm bẩm sinh đa phần ở góc trước trên màng nhĩ (54,6%), nhóm mắc phải thường biểu hiện dưới dạng túi co kéo/thủng nhĩ/polyp thượng nhĩ (81,2%). Mức độ thông bào xương chũm nhóm bẩm sinh chủ yếu mức MC2 (39,4%), MC3 (54,5%), tốt hơn so với nhóm mắc phải ghi nhận mức MC1 (53,2%) và MC0 (6,1%). Xương con không bị tổn thương trên CLVT trong nhóm bẩm sinh là 51,5% và nhóm mắc phải là 18,7%. Tỉ lệ ăn mòn cả 3 xương con trên CLVT gặp ở nhóm bẩm sinh là 6,1%, nhóm mắc phải 31,3%. Cholesteatoma bẩm sinh chủ yếu khu trú ở hòm nhĩ (69,7%) và ít lan tràn, trong khi cholesteatoma mắc phải thường gây tổn thương lan rộng với viêm mờ xương chũm (65,6%), hở trần thượng nhĩ (12,5%) và mất tường thượng nhĩ (53,1%).
Kết luận: Cholesteatoma ở trẻ em có thể phát triển âm thầm, triệu chứng không rõ ràng dù đã có nhiều biến đổi cấu trúc trong tai giữa, cần nhận diện sớm các dấu hiệu nghi ngờ và theo dõi định kỳ màng nhĩ, đặc biệt ở trẻ nam, trẻ có viêm tai tái phát một bên hoặc có yếu tố nguy cơ rối loạn chức năng vòi nhĩ, đóng vai trò quan trọng trong phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh.