Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ3-NCKH 02/04/2026

NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI CHOLESTEATOMA TAI GIỮA Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG TỪ THÁNG 6/2020 ĐẾN THÁNG 10/2025

Nguyễn Hoài Khôi Nguyên1,2, Lê Anh Tuấn1,2,3,4, Đới Xuân An3,4, Nguyễn Như Đua1,2, Nguyễn Như Đua1,2, Đoàn Thị Hồng Hoa1,2
1 Department of Otolaryngology, University of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
2 Bộ môn Tai Mũi Họng, Đại học Y Dược, ĐHQG Hà Nội
3 Department of Pediatrics, National Otolaryngology Hospital
4 Khoa Nhi, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD3.4728
18 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh một số đặc điểm giữa cholesteatoma bẩm sinh và mắc phải trong lệnh lý tai giữa ở trẻ em.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả, từng ca bệnh (tiến cứu và hồi cứu), được tiến hành trên 65 bệnh nhân tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương, thời gian nghiên cứu từ 2020-2025.

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ trẻ nam nhiều hơn nữ trong cả 2 nhóm bẩm sinh và mắc phải. Tuổi trung bình chẩn đoán của trẻ nhóm bẩm sinh (5,15 ± 3,28) thấp hơn nhóm mắc phải (9,0 ± 3,74). Lý do đến khám của nhóm bẩm sinh đa phần được phát hiện tình cờ (78,7%), khác với mắc phải thường có các vấn đề về tai: chảy mủ tai 59,3% hoặc đau nhức tai, giảm thính lực (25%). Đặc điểm tổn thương trên nội soi nhóm bẩm sinh đa phần ở góc trước trên màng nhĩ (54,6%), nhóm mắc phải thường biểu hiện dưới dạng túi co kéo/thủng nhĩ/polyp thượng nhĩ (81,2%). Mức độ thông bào xương chũm nhóm bẩm sinh chủ yếu mức MC2 (39,4%), MC3 (54,5%), tốt hơn so với nhóm mắc phải ghi nhận mức MC1 (53,2%) và MC0 (6,1%). Xương con không bị tổn thương trên CLVT trong nhóm bẩm sinh là 51,5% và nhóm mắc phải là 18,7%. Tỉ lệ ăn mòn cả 3 xương con trên CLVT gặp ở nhóm bẩm sinh là 6,1%, nhóm mắc phải 31,3%. Cholesteatoma bẩm sinh chủ yếu khu trú ở hòm nhĩ (69,7%) và ít lan tràn, trong khi cholesteatoma mắc phải thường gây tổn thương lan rộng với viêm mờ xương chũm (65,6%), hở trần thượng nhĩ (12,5%) và mất tường thượng nhĩ (53,1%).

Kết luận: Cholesteatoma ở trẻ em có thể phát triển âm thầm, triệu chứng không rõ ràng dù đã có nhiều biến đổi cấu trúc trong tai giữa, cần nhận diện sớm các dấu hiệu nghi ngờ và theo dõi định kỳ màng nhĩ, đặc biệt ở trẻ nam, trẻ có viêm tai tái phát một bên hoặc có yếu tố nguy cơ rối loạn chức năng vòi nhĩ, đóng vai trò quan trọng trong phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Potsic WP, Korman SB, Samadi DS, Wetmore RF. Congenital cholesteatoma: 20 years’ experience at The Children’s Hospital of Philadelphia. Otolaryngol--Head Neck Surg Off J Am Acad Otolaryngol-Head Neck Surg. 2002;126(4):409-414. doi:10.1067/mhn.2002.123446 Google Scholar
[2]
Nguyễn Hữu Luật, Đào Trung Dũng. Đặc điểm nội soi tai và cắt lớp vi tính Cholesteatoma bẩm sinh tai giữa ở trẻ em. Tạp Chí Nghiên Cứu Học. 2024;183(10):237-246. doi:10.52852/tcncyh.v183i10.2924 Google Scholar
[3]
Nelson M, Roger G, Koltai PJ, et al. Congenital cholesteatoma: classification, management, and outcome. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 2002;128(7):810-814. doi:10.1001/archotol.128.7.810 Google Scholar
[4]
Benhammou A, Nguyen DQ, El Makhloufi K, Charachon R, Reyt E, Schmerber S. [Long term results of congenital middle ear cholesteatoma in children]. Ann Oto-Laryngol Chir Cervico Faciale Bull Soc Oto-Laryngol Hopitaux Paris. 2005;122(3):113-119. doi:10.1016/s0003-438x(05)82335-7 Google Scholar
[5]
Lazard DS, Roger G, Denoyelle F, Chauvin P, Garabédian EN. Congenital cholesteatoma: risk factors for residual disease and retraction pockets--a report on 117 cases. The Laryngoscope. 2007;117(4):634-637. doi:10.1097/mlg.0b013e318030ac8c Google Scholar
[6]
Vangrinsven G, Bernaerts A, Deckers F, van Dinther J, Zarowski A, De Foer B. Beyond the otoscope: an imaging review of congenital cholesteatoma. Insights Imaging. 2024;15(1):194. doi:10.1186/s13244-024-01761-1 Google Scholar
[7]
Morita Y, Yamamoto Y, Oshima S, Takahashi K, Takahashi S. Acquired cholesteatoma in children: clinical features and surgical outcome. Auris Nasus Larynx. 2014;41(5):417-421. doi:10.1016/j.anl.2014.05.002 Google Scholar
[8]
Schraff SA, Strasnick B. Pediatric cholesteatoma: a retrospective review. Int J Pediatr Otorhinolaryngol. 2006;70(3):385-393. doi:10.1016/j.ijporl.2005.10.006 Google Scholar
[9]
Levenson MJ, Parisier SC, Chute P, Wenig S, Juarbe C. A review of twenty congenital cholesteatomas of the middle ear in children. Otolaryngol--Head Neck Surg Off J Am Acad Otolaryngol-Head Neck Surg. 1986;94(5):560-567. doi:10.1177/019459988609400505 Google Scholar