Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ3-NCKH 02/04/2026

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NHIỄM KHUẨN Ở BỆNH NHÂN SUY GAN CẤP TRÊN NỀN BỆNH GAN MẠN TÍNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN BẠCH MAI GIAI ĐOẠN 2020-2025

Hoàng Văn Quang1,2,3,4, Đặng Quốc Tuấn2,4,5, Vương Xuân Toàn5,6, Ngô Nam Hải1,3
1 Vinh City General Hospital
2 Hanoi Medical University
3 Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh
4 Trường Đại học Y Hà Nội
5 Bệnh viện Bạch Mai
6 Bach Mai Hospital
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD3.4700
25 Lượt xem
7 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn ở bệnh nhân suy gan cấp trên nền bệnh gan mạn tính (ACLF).

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát trên 80 bệnh nhân ACLF được điều trị tại Trung tâm Hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2020-2025.

Kết quả: Tuổi trung bình 52,5 ± 12,1 (21-79), giới tính nam (86,3%). Tỉ lệ nhiễm khuẩn chung (68,8%). Nhiễm vi khuẩn (31,3%), nhiễm nấm (5%). Nhiễm khuẩn bệnh viện (94,5%). Loại nhiễm khuẩn hay gặp nhất là phổi (53,8%), tiếp đến là huyết (16,3%). Căn nguyên gây nhiễm khuẩn huyết và phổi chủ yếu là vi khuẩn gram âm, gây nhiễm khuẩn tiết niệu thường gặp là cầu khuẩn gram dương đường ruột. Với K. pneumonia P. aeruginosa thì ceftazidime/ avibactam vẫn còn hiệu quả; với E. coli còn nhạy với piperacillin/ tazobactam, aminosid và carbapenem; với A. baumannii kháng hầu hết với các kháng sinh thường dùng tại Việt Nam; với amikacin và gentamycin còn nhạy nhiều vi khuẩn; với các vi khuẩn gram dương còn nhạy nhiều với vancomycin, linezolid.

Kết luận: Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân ACLF có tỉ lệ cao, chủ yếu là nhiễm khuẩn bệnh viện với các loại nhiễm khuẩn thường gặp là phổi và huyết. Vi khuẩn gram âm là căn nguyên chính, trong đó K. pneumoniae, P. aeruginosa còn nhạy với ceftazidime/avibactam, E. coli còn nhạy với piperacillin/tazobactam, aminosid và carbapenem, trong khi A. baumannii kháng hầu hết kháng sinh thường dùng. Các vi khuẩn gram dương vẫn còn nhạy nhiều với vancomycin và linezolid.

Tài liệu tham khảo
[1]
Sarin SK, Choudhury A, Sharma MK, et al. Correction to: Acute-on-chronic liver failure: consensus recommendations of the Asian Pacific association for the study of the liver (APASL). an update Hepatol Int. 2019:13(6):826-828. doi:10.1007/s12072-019-09980-1. Google Scholar
[2]
Nguyễn Thị Minh Hảo. Áp dụng thang điểm AARC trong đánh giá tiên lượng của suy gan cấp. Luận văn thạc sĩ y học. 2022:Trường đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[3]
Kumar BKP, Sharma A, Gupta P, et al. Prevalence and impact of infections in acute on chronic liver failure in Rishikesh, India: a prospective cohort study. Pan Afr Med J. 2023:46:101. doi: 10.11604/pamj.2023.46.101.39536. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Thủy. Tình hình nhiễm khuẩn của bệnh nhân mới vào khoa Hồi sức tích cực, bệnh viện Bạch Mai năm 2021-2022. Luận văn thạc sĩ y học. 2022:Trường Đại học y Hà Nội. Google Scholar
[5]
Lan NN, Lieu DQ, Anh TN, et al. Characteristics and Related Factors of Bacterial Infection Among Patients With Cirrhosis. Mater Sociomed. 2024:36(1):90-96. doi: 10.5455/msm.2024.36.90-96. Google Scholar
[6]
Fernández J, Acevedo J, Wiest R, et al. European Foundation for the Study of Chronic Liver Failure. Bacterial and fungal infections in acute-on-chronic liver failure: prevalence, characteristics and impact on prognosis. Gut. 2017:Gutjnl-2017-314240 . Doi: 10.1136/gutjnl- 2017-314240. Google Scholar
[7]
Hoàng Văn Thái. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, vi sinh và kết quả điều trị nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhân xơ gan tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An. Luận văn chuyên khoa cấp II. 2022:Trường Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[8]
Zhang Q, Shi B, Wu L. Characteristics and risk factors of infections in patients with HBV-related acute-onchronic liver failure: a retrospective study. PeerJ. 2022:10:e13519 DOI 10.7717/peerj.13519. Google Scholar