Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ4-HN Ký sinh trùng-HN Hóa sinh 2026 14/04/2026

TỶ LỆ NHIỄM , LOÀI NẤM MEN PHÂN LẬP TỪ CÁC BỆNH PHẨM NUÔI CẤY TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103 (1/2023 – 3/2025)

Nguyễn Thị Vân1,2, Nguyễn Thị Duyên3,4, Đỗ Ngọc Ánh1,2
1 Military Medical Academy
2 Học viện Quân y
3 Military Hospital 103
4 Bệnh viện Quân y 103
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD4.4695
33 Lượt xem
8 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ nhiễm và đặc điểm các loài nấm men phân lập được từ các bệnh phẩm tại Bệnh viện Quân y 103 trong giai đoạn từ tháng 1/2023 đến tháng 3/2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được tiến hành từ ngày 01/01/2023 đến 30/3/2025 trên 511 bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm cấy nấm tại Bệnh viện Quân y 103. Các kỹ thuật chẩn đoán bao gồm nuôi cấy trên môi trường Sabouraud và xác định loài Candida trên môi trường CHROMagar™ Candida.

Kết quả: Trong tổng số 511 bệnh nhân, có 199 trường hợp dương tính, chiếm tỷ lệ 38,9%. Nhóm tuổi ≥ 56 có tỷ lệ dương tính cao nhất (42,8%) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,02). Nấm men chiếm ưu thế với 158 mẫu, trong đó chi Candida chiếm tỷ lệ cao nhất (95,5%). Các loài nấm men phổ biến nhất bao gồm: C. albicans (45,5%), C. tropicalis (30,3%) và C. krusei (20,1%). Đáng chú ý, nghiên cứu ghi nhận 1,2% trường hợp nhiễm Talaromyces marneffei từ bệnh phẩm chất nạo giác mạc ở bệnh nhân không suy giảm miễn dịch. Tỷ lệ nấm phân lập từ bệnh phẩm đường hô hấp chiếm đa số (77%).

Kết luận: Cần thực hiện định danh chính xác loài nấm gây bệnh để có định hướng điều trị và quản lý kháng nấm hiệu quả hơn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Mora Carpio AL, Climaco A (2025) Candidemia. In: StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure Island (FL) Google Scholar
[2]
Bộ Y tế (2021) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nấm xâm lấn Google Scholar
[3]
Ngô Thị Mai Khanh, Nguyễn Mạnh Tuấn (2023) Tình hình nhiễm nấm xâm lấn của một số chủng vi nấm gây bệnh phân lập trên bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (1/2017 - 12/2018). vjid 2:23–33. https://doi.org/10.59873/vjid.v2i38.45 Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Bé Sáu, Trần Phủ Mạnh Siêu (2023) Khảo sát tỷ lệ vi nấm trên bệnh nhân thở máy tại khoa hồi sức tích cực bệnh viện Nguyễn Trãi. VMJ 520:. https://doi.org/10.51298/vmj.v520i1B.3869 Google Scholar
[5]
Lý Ngọc Anh, Huỳnh Phương Uy, Lê Thị Thúy Kiều, Lý Khánh Linh (2025) Tỷ lệ nhiễm vi nấm trên bệnh nhân nhiễm khuẩn tiết niệu đang điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh. YHCĐ 66:88–93. https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD8.2561 Google Scholar
[6]
Colombo AL, Guimarães T, Camargo LFA, et al (2013) Brazilian guidelines for the management of candidiasis - a joint meeting report of three medical societies: Sociedade Brasileira de Infectologia, Sociedade Paulista de Infectologia and Sociedade Brasileira de Medicina Tropical. Braz J Infect Dis 17:283–312. https://doi.org/10.1016/j.bjid.2013.02.001 Google Scholar
[7]
Morii D, Seki M, Binongo JN, et al (2014) Distribution of Candida species isolated from blood cultures in hospitals in Osaka, Japan. J Infect Chemother 20:558–562. https://doi.org/10.1016/j.jiac.2014.05.009 Google Scholar
[8]
Phạm Văn Phúc, Lê Thị Huyền, Roãn Thị Hương, Lương Hương Giang (2025) Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân nhiễm Candida máu tại khoa hồi sức tích cực, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam 547 (3):128–133 Google Scholar
[9]
Nguyễn Thị Linh Chi, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Phương Thoa, et al (2025) Tỷ lệ nhiễm và mức độ kháng thuốc của Candida spp xâm lấn tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương từ tháng 1 đến tháng 6/2024. Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam 02 (50):71–78 Google Scholar
[10]
Tan TY, Hsu LY, Alejandria MM, et al (2016) Antifungal susceptibility of invasive Candida bloodstream isolates from the Asia-Pacific region. Med Mycol 54:471–477. https://doi.org/10.1093/mmy/myv114 Google Scholar