Giới thiệu: Bệnh sán lá gan lớn ở người là một trong những bệnh ký sinh trùng bị lãng quên, hiện đang nổi và tái nổi với tỉ lệ nhiễm tăng dần ở một số vùng trên thế giới và Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nhiễm cao nhất. Siêu âm B-mode giúp chẩn đoán và theo dõi quá trình hồi phục sau điều trị đặc hiệu, song chưa đánh giá được độ xơ hóa (độ cứng) nhu mô gan và thương tổn trên cả hệ gan-mật trong khi nhiễm Fasciola spp. Siêu âm đàn hồi mô gan là một công cụ hiện đại dùng để đánh giá mức độ xơ hóa gan (độ cứng) tổn thương, giúp theo dõi sự hồi phục tổn thương trên hệ gan mật. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá sự thay đổi của tổn thương hệ gan-mật do Fasciola spp. trên siêu âm B-mode và đàn hồi mô, theo dõi tình trạng xơ hóa nhu mô gan trước và sau điều trị thông qua sự thay đổi độ cứng nhu mô gan.
Phương pháp: Một thiết kế mô tả cắt ngang trên loạt ca bệnh để mô tả đặc điểm tổn thương gan-mật do sán lá gan lớn trên siêu âm và đánh giá sự thay đổi của tổn thương gan-mật do sán lá gan lớn trước và sau điều trị triclabendazole 20mg/kg. Nghiên cứu ghi nhận 40 trường hợp nhiễm Fasciola spp. có tổn thương gan trên siêu âm và mô tả đặc điểm tổn thương gan-mật, bao gồm độ xơ hóa gan, trước và sau điều trị 1, 3 tháng.
Kết quả: Vị trí tổn thương do Fasciola spp. hay gặp ở gan phải (62,5%) hơn gan trái (27,5%) và cả hai (10%), số ổ áp xe gan chiếm cao nhất là 1 ổ (50%) và 2 ổ (40%), đường kính khối tổn thương 30-70 cao nhất (65%), tính chất hồi âm tổn thương thường gặp là hỗn hợp âm dạng điển hình gồm giảm âm ưu thế, kèm tăng âm và trống âm (60%), thấp hơn là hỗn hợp âm không điển hình (giảm âm kèm tăng âm) chiếm 30%, ít gặp nhất là tổn thương giảm âm (10%). Đo đàn hồi đánh giá độ cứng (xơ hóa) của tổn thương do Fasciola spp. theo Metavir với mức F2 chiếm tỉ lệ cao (82,5%), kế đến là F1 (17,5%) trong khi độ cứng vùng không tổn thương gan đa số ở F0 (92,68%), F1 chiếm tỉ lệ thấp (7,32%). Sau điều trị 1 và 3 tháng, số ổ tổn thương, kích thước tổn thương hầu hết đều giảm. Tính chất hồi âm của tổn thương chuyển dạng từ hỗn hợp âm với giảm âm ưu thế chuyển sang tăng âm sau 3 tháng điều trị. Độ cứng tổn thương đã thay đổi trong quá trình điều trị: sau 1 tháng, độ cứng vùng tổn thương gan từ mức F2 (82,5%), F1 (17,5%) đã chuyển sang F3 (85%) và F4 (7,5%), F2 (7,5%); sau 3 tháng, độ cứng F4 tăng lên (30%), F3 vẫn chiếm tỉ lệ cao (70%). Điều này chứng tỏ có sự xơ hóa gan ở các vùng tổn thương do Fasciola spp. trong giai đoạn hồi phục.
Kết luận: Siêu âm đàn hồi mô gan kết hợp B-mode hỗ trợ chẩn đoán, phân biệt tổn thương gan do Fasciola spp. dạng không điển hình với các tổn thương gan khác chính xác hơn. Trong giai đoạn hồi phục, sự xơ hóa vùng gan tổn thương cần được theo dõi.