Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ4-HN Ký sinh trùng-HN Hóa sinh 2026 14/04/2026

THÀNH PHẦN LOÀI NẤM ASPERGILLUS, PENICILLIUM Ở MỘT SỐ VỊ THUỐC CỔ TRUYỀN TẠI 3 CƠ SỞ KINH DOANH NỘI THÀNH HẢI PHÒNG NĂM 2024

Bùi Thị Hồng Ánh1,2, Võ Thị Thanh Hiền1,2, Đinh Thị Thanh Mai1,2, Vũ Văn Thái1,2, Nguyễn Thị Huyền Sương1,2
1 Hai Phong University of Medicine and Pharmacy
2 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD4.4688
25 Lượt xem
3 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định thành phần loài nấm Aspergillus, Pencillium ở một số vị thuốc cổ truyền tại 3 cơ sở kinh doanh nội thành Hải Phòng năm 2024.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang các chủng nấm AspergillusPenicillium thuần được chọn lọc từ các khuẩn lạc mọc trên môi trường DG18 phân lập từ vị thuốc cổ truyền . Chọn ngẫu nhiên 30 mẫu thực hiện kỹ thuật PCR và giải trình tự gen.

Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng thành phần loài và chiếm ưu thế là chi Aspergillus (24/30 chủng) trong đó A. niger (6/30 mẫu), tiếp theo là A. chevalieriP. citrinum (4/30 mẫu). Nghiên cứu đã định danh thành công các loài có tiềm năng sinh độc tố cực mạnh như Aspergillus flavus (có khả năng sinh Aflatoxin) và đặc biệt là Aspergillus steynii – loài được báo cáo có khả năng sinh Ochratoxin A (OTA) cao gấp 1000 lần so với các loài thông thường. Cây phát sinh loài cho thấy các chủng nấm phân lập tại Hải Phòng có độ tương đồng trên 99-100% với các chủng chuẩn quốc tế trên GenBank.

Kết luận: Thành phần loài nấm trên vị thuốc cổ truyền tại nội thành Hải Phòng không chỉ đa dạng mà còn có nguy cơ tiềm tàng do hiện diện loài có khả năng sinh độc tố nấm mốc. Trong 30 chủng nấm phân lập từ vị thuốc cổ truyền có 24 chủng thuộc chi Aspergillus, 6 chủng thuộc chi Penicillium. Phân lập được 13 loài nấm trong đó A. niger chiếm tỷ lệ cao nhất.

Tài liệu tham khảo
[1]
Gachara G., Suleiman R., Kilima B. et al. (2024). Pre- and post-harvest aflatoxin contamination and management strategies of Aspergillus spoilage in East African Community maize: review of etiology and climatic susceptibility. Mycotoxin Res. Google Scholar
[2]
Wang Y., Wang L., Liu F. et al. (2016). Ochratoxin A Producing Fungi, Biosynthetic Pathway and Regulatory Mechanisms. Toxins, 8(3), 83. Google Scholar
[3]
Sueck F., Hemp V., Specht J. và cộng sự. (2019). Occurrence of the Ochratoxin A Degradation Product 2′R-Ochratoxin A in Coffee and Other Food: An Update. Toxins, 11(6), 329. Google Scholar
[4]
Chen L., Guo W., Zheng Y. et al. (2020). Occurrence and Characterization of Fungi and Mycotoxins in Contaminated Medicinal Herbs. Toxins, 12(1), 30. Google Scholar
[5]
Phục T.Q., Thăng H.V., và Thủy Đ.T.T. (2022). Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm nấm ở các vị thuốc đông dược tại bệnh viện đông y tỉnh Nghệ An năm 2019. . Google Scholar
[6]
Đinh Thị Thanh Mai, Bùi Thị Hồng Ánh, Vũ Văn Thái và cộng sự. (2024), Thực trạng nhiễm nấm Aspergillus, Penicillin ở vị thuyết ở vị thuốc cổ truyền tại một số sơ sở kinh doanh nội thành Hải Phòng năm 2024, Đề tài cơ sở, Đại học Y Dược Hải Phòng. Google Scholar
[7]
Đậu Huy Hoàn (2018), Thực trạng nhiễm vi nấm, aflatoxin trong một số vị thuốc đông dược, kiến thức, thái độ, thực hành, bảo quản thuốc của cán bộ y tế tỉnh Nghệ An, hiệu quả can thiệp (2016-2017), Luận văn Tiến sĩ. Google Scholar
[8]
Ehsan Musa Ewad EL-Kareem, Hatil Hashim EL-Kamali, Ahlam Salih Eltahir et al. (2021). Fungal Contamination of Some Medicinal Plant Materials Sold at Omdurman Local Market, Khartoum State, Central Sudan. (7), 85–92. Google Scholar
[9]
Skrzydlewski P., Twarużek M., và Grajewski J. (2022). Cytotoxicity of Mycotoxins and Their Combinations on Different Cell Lines: A Review. Toxins, 14(4), 244. Google Scholar
[10]
Vakili S., Baher E., Vaezi Z. et al. (2023). In Vitro Study of the Interaction between Ochratoxin A and Human Serum Albumin by Spectroscopic and Molecular Docking Methods. ChemistrySelect, 8. Google Scholar
[11]
Gil-Serna J., Patiño B., Cortes L.et al. (2015). Aspergillus steynii and Aspergillus westerdijkiae as potential risk of OTA 1 contamination in food products in warm climates. Food Microbiol, 46, 168–175. Google Scholar