Bài báo khoa học Tập 67 Số 3 31/03/2026

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT U XƠ TỬ CUNG

Vũ Khánh Huyền1,2, Đỗ Tuấn Đạt3,4, Lê Thị Thanh Tâm5,6, Đinh Thị Vân Anh7,8, Đặng Thị Minh Nguyệt3,4, Ngô Xuân Khoa3,4
1 National Hospital of Obstetrics and Gynecology
2 Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
3 Hanoi Medical University
4 Trường Đại học Y Hà Nội
5 Vinh Medical University
6 Trường Đại học Y khoa Vinh
7 Nghe An Friendship General Hospital
8 Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An
DOI: 10.52163/yhc.v67i3.4655
17 Lượt xem
4 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá các yếu tố liên quan đến lựa chọn phương pháp phẫu thuật u xơ tử cung.

Đối tượng và phương pháp: 590 bệnh nhân được chẩn đoán u xơ tử cung và có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ ngày 1/1/2024 đến 31/12/2024. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện.

Kết quả: Nhóm được phẫu thuật bóc u xơ tử cung có tuổi trung bình thấp nhất (41,15 ± 6,37 tuổi), chủ yếu gặp ở bệnh nhân dưới 45 tuổi (85,4%). Ở nhóm mãn kinh, tất cả bệnh nhân đều được cắt tử cung hoàn toàn (100%), nhóm chưa mãn kinh, các phương pháp phẫu thuật bóc u xơ và cắt tử cung bán phần lần lượt chiếm 15,8% và 14,6%. Nhóm bệnh nhân có 1 khối u chiếm tỷ lệ cao nhất, được chỉ định cắt tử cung hoàn toàn (66,9%), tiếp theo là bóc u (19,1%) và cắt tử cung bán phần (14%). Với u nhỏ hơn 5 cm, bóc u chiếm tỷ lệ cao (26,8%). Khi kích thước u tăng lên 5-10 cm, tỷ lệ bóc u giảm xuống 12,7% và cắt tử cung hoàn toàn trở thành lựa chọn chủ yếu (77,7%). Bệnh nhân có u ở vị trí L0-2 và L6-7 được chỉ định bóc u với tỷ lệ cao hơn (50% và 66,7%) so với nhóm u vị trí L3-5 (13,6%) và ngược lại đối với cắt tử cung hoàn toàn.

Kết luận: Lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc chặt chẽ vào tuổi, nhu cầu sinh sản, tình trạng kinh nguyệt, kích thước và số lượng khối u. Bóc u xơ tử cung được ưu tiên ở phụ nữ trẻ, còn nhu cầu sinh sản; trong khi cắt tử cung hoàn toàn được chỉ định cho nhóm lớn tuổi, mãn kinh hoặc u lớn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Stewart E.A et al. Uterine fibroids. New England Journal of Medicine, 2024, 391 (18): 1721-1733. doi: 10.1056/NEJMcp2309623 Google Scholar
[2]
Liu Y.H, Qiu Y.H, Ru Y, Liu Y.Q, Wang D, Zhang P.A. Selection of different surgical methods for uterine fibroids. Medicine (Baltimore) , 2021, 100 (51): e28378. doi: 10.1097/MD.0000000000028378 Google Scholar
[3]
Nguyễn Đức Tú. Điều trị u xơ tử cung bằng phẫu thuật nội soi cắt tử cung hoàn toàn tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đai học Y Hà Nội, 2019. Google Scholar
[4]
Phùng Trọng Thủy, Phạm Bá Nha. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị u xơ tử cung bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 505 (1): 199-203. doi: 10.51298/vmj.v505i1.1057 Google Scholar
[5]
Parker W.H. Etiology, symptomatology, and diagnosis of uterine myomas. Fertil Steril, 2007, 87 (4): 725-736. doi: 10.1016/j.fertnstert.2007.01.093 Google Scholar
[6]
Pickett C.M, Seeratan D.D et al. Surgical approach to hysterectomy for benign gynaecological disease. Cochrane Database Syst Rev, 2023, 2023 (8) CD003677. doi: 10.1002/14651858. Google Scholar
[7]
Munro M.G, Critchley H.O.D et al. The two FIGO systems for normal and abnormal uterine bleeding symptoms and classification of causes of abnormal uterine bleeding in the reproductive years: 2018 revisions. Int J Gynaecol Obstet, 2018, 143 (3): 393-408. doi: 10.1002/ijgo.12666 Google Scholar