Bài báo khoa học Tập 67 Số 3 31/03/2026

THỰC TRẠNG BỆNH CẬN THỊ Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN MẮT HÀ NỘI

Nguyễn Ngân Hà1,2,3,4, Hoàng Thị Thùy5,6, Nguyễn Minh Phú1,2,3,4
1 Hanoi Medical University
2 Vietnam National Eye Hospital
3 Trường Đại học Y Hà Nội
4 Bệnh viện Mắt Trung ương
5 Hanoi Eye Hospital
6 Bệnh viện Mắt Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67i3.4648
16 Lượt xem
6 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu mô tả thực trạng cận thị và một số yếu tố liên quan ở 300 trẻ em từ 3-18 tuổi đến khám tại Bệnh viện Mắt Hà Nội năm 2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 300 trẻ em. Các chỉ số nghiên cứu bao gồm đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng, thói quen sinh hoạt liên quan đến thị lực, chăm sóc mắt và mức độ ảnh hưởng của cận thị đến sinh hoạt hằng ngày.

Kết quả: Đa số trẻ bị ảnh hưởng nhẹ đến sinh hoạt (67%), trong khi 10% bị ảnh hưởng nhiều. Kính gọng là phương pháp điều trị chủ yếu (79,67%), tuy nhiên vẫn còn 12,67% trẻ chưa được điều trị. Thời gian sử dụng thiết bị điện tử phổ biến là 2-4 giờ/ngày (33%), trong khi 39% trẻ sử dụng trên 4 giờ/ngày; hoạt động ngoài trời trên 1 giờ/ngày chỉ chiếm 31,66%. Thói quen đọc sách ở khoảng cách gần còn phổ biến (81,67%) và 19,33% trẻ không khám mắt định kỳ.

Kết luận: Cận thị ở trẻ em vẫn phổ biến và liên quan đến hành vi thị giác, nhấn mạnh vai trò của phát hiện sớm, theo dõi định kỳ và can thiệp toàn diện nhằm hạn chế tiến triển và biến chứng.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. World report on vision: executive summary. No. WHO/NMH/NVI/19.12, 2019. Google Scholar
[2]
Morgan I.G, Ohno-Matsui K, Saw S.M. Myopia. Lancet, 2012, 379 (9827):1739-1748. doi: 10.1016/S0140-6736 (12): 60272-4. Google Scholar
[3]
Holden B.A, Fricke T.R, Wilson D.A et al. Global prevalence of myopia and high myopia and temporal trends. Ophthalmology, 2016, 123 (5): 1036-1042. doi: 10.1016/j.ophtha.2016.01.006. Google Scholar
[4]
Bộ Y tế. Chương trình phòng chống mù lòa và tật khúc xạ ở trẻ em Việt Nam, Hà Nội, 2016. Google Scholar
[5]
Wu P.C, Chuang M.N, Choi J et al. Update in myopia and atropine use for myopia control. Eye, 2019, 33 (1): 3-13. doi: 10.1038/s41433-018-0139-7. Google Scholar
[6]
Yam J.C, Jiang Y, Tang S.M et al. Low-concentration atropine for myopia progression (LAMP study). Ophthalmology, 2019, 126 (1): 113-124. doi: 10.1016/j.ophtha.2018.05.029. Google Scholar
[7]
Huang H.M, Chang D.S, Wu P.C. The association between near work activities and myopia in children. PLoS One, 2015, 10 (10): e0140419. doi: 10.1371/journal.pone.0140419. Google Scholar
[8]
Lanca C, Saw S.M. Digital screen time and myopia. Ophthalmic Physiol Opt, 2020, 40 (2): 216-229. doi: 10.1111/opo.12657. Google Scholar
[9]
Rose K.A, Morgan I.G et al. Outdoor activity reduces the prevalence of myopia in children. Ophthalmology, 2008, 115 (8): 1279-1285. doi: 10.1016/j.ophtha.2007.12.019. Google Scholar