Bài báo khoa học Tập 67 Số 3 31/03/2026

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 6 THÁNG TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU NĂM 2025

Lê Trung Niềm1,2, Huỳnh Ngọc Linh1,2, Huỳnh Thị Hồng Thu3,4
1 Ca Mau Medical College
2 Trường Cao đẳng Y tế Cà Mau
3 Tra Vinh university
4 Trường Đại học Trà Vinh
DOI: 10.52163/yhc.v67i3.4612
19 Lượt xem
8 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 390 bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Cà Mau. Kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn được đánh giá bằng bộ câu hỏi cấu trúc; bà mẹ được xác định đạt kiến thức và thực hành đúng khi đạt ≥ 80% tổng điểm.

Kết quả: Tỷ lệ bà mẹ đạt kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là 60,26%; tỷ lệ thực hành đúng là 68,97%. Các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng gồm trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên (OR = 1,59), nghề nghiệp là công chức/viên chức (OR = 2,95), tự quyết định việc nuôi con (OR = 2,81) và được nhân viên y tế truyền đạt kiến thức (OR = 3,08). Thực hành đúng có liên quan với tuổi bà mẹ ≥ 35 (OR = 2,33), trình độ học vấn ≥ trung học phổ thông (OR = 2,08), sinh thường (OR = 2,17), sinh con từ lần thứ hai trở lên (OR = 3,30) và kiến thức đúng (OR = 17,11).

Kết luận: Tỷ lệ bà mẹ đạt kiến thức và thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn còn chưa cao. Cần tăng cường truyền thông, giáo dục sức khỏe, đặc biệt thông qua nhân viên y tế, nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại cộng đồng.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. Infant and young child feeding, 2020. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/infant-and-young-child-feeding Google Scholar
[2]
Victora C.G, Bahl R et al. Breastfeeding in the 21st Century: Epidemiology, mechanisms, and lifelong effect. The Lancet, 2016, 387 (10017), 475-490. doi: 10.1016/S0140-6736(15)01024-7. Google Scholar
[3]
Rollins N.C, Bhandari N et al. Why invest, and what it will take to improve breastfeeding practices? The Lancet, 2016, 387 (10017): 491-504. doi: 10.1016/S0140-6736(15)01044-2. Google Scholar
[4]
Lý Ngọc Hà, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Thị Thu Hà. Kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi. Tạp chí Y học Dự phòng, 2019, 29 (6): 45-51. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thị Huyền, Phạm Thị Thanh Thủy, Lê Thị Minh Nguyệt. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và các yếu tố liên quan ở bà mẹ có con nhỏ. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2020, 55 (2): 72-78. Google Scholar
[6]
Vũ Văn Dũng, Trần Thị Bích Ngọc, Nguyễn Văn Hùng. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại Việt Nam. Tạp chí Y tế Công cộng, 2018, 12 (3): 33-39. Google Scholar
[7]
Đoàn Huỳnh Tuấn Tú, Lê Thị Mỹ Hạnh, Trần Quốc Bảo. Vai trò của truyền thông y tế trong cải thiện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2021, 61 (4): 89-95. Google Scholar
[8]
Phạm Thị Hoa, Nguyễn Văn Nam, Lê Thị Thanh Hương. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ sau sinh. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 519 (1): 112-118. Google Scholar