Bài báo khoa học Tập 67 Số 3 31/03/2026

CẤP CỨU VÀ HỒI SỨC NẠN NHÂN TRONG THẢM HỌA CHÁY KHÔNG GIAN KÍN: BÁO CÁO LOẠT CA 17 BỆNH NHÂN TẠI BỆNH VIỆN E

Phan Thảo Nguyên 1,2, Trịnh Việt Anh1,2, Phạm Xuân Hiếu1,2, Đỗ Quốc Phong1,3, Nguyễn Đình Liên1,3, Trần Minh Hiếu1,3, Lương Quốc Hùng1,2, Vũ Hồng Anh1,2, Nguyễn Công Hựu1,2, Nguyễn Ngọc Thái Minh4,5, Nguyễn Gia Bình1,2
1 E Hospital
2 Bệnh viện E
3 1. Bệnh viện E
4 Le Huu Trac National Hospital - Military Medical Academy
5 2. Bệnh viện bỏng quốc gia Lê Hữu Trác - Học viện quân Y
DOI: 10.52163/yhc.v67i3.4578
17 Lượt xem
9 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Cháy trong không gian kín là thảm họa y tế nguy hiểm do cơ chế tổn thương phối hợp giữa ngộ độc khí CO, bỏng nhiệt và bỏng hô hấp. 

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phân loại tổn thương và kết quả điều trị của các nạn nhân trong vụ cháy ngày 7/1/2026 tại Bệnh viện E, đặc biệt phân tích vai trò của nội soi phế quản sớm.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 17 bệnh nhân.

Quy trình thảm họa gồm: phân loại triage, khí máu động mạch, định lượng HbCO, và nội soi phế quản ống mềm sớm. Kết quả: Tuổi trung bình 22,9 ± 2,6; nữ chiếm 52,9%. Có 2 bệnh nhân (11,8%) tổn thương bỏng hô hấp độ III-IV phải đặt nội khí quản chủ động. Đáng chú ý, nội soi phế quản phát hiện hình ảnh muội than và phù nề đường thở ở 82,4% nạn nhân, ngay cả những trường hợp lâm sàng ban đầu ổn định. Một trường hợp nhập viện hoàn toàn tỉnh táo nhưng nội soi phát hiện bỏng độ III, được đặt ống nội khí quản dự phòng thành công. Không có tử vong, tất cả ra viện sau 3–10 ngày.

Kết luận: Cháy không gian kín gây tỷ lệ cao bỏng hô hấp tiềm ẩn. Nội soi phế quản sớm là tiêu chuẩn vàng để phân tầng nguy cơ và quyết định kiểm soát đường thở chủ động.

Từ khóa: Cháy không gian kín, Ngộ độc CO, Bỏng hô hấp, Nội soi phế quản, Bệnh viện E.

Tài liệu tham khảo
[1]
Lê Năm (2015). Bỏng hô hấp: Chẩn đoán và điều trị. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. Google Scholar
[2]
Nguyễn Gia Tiến, Nguyễn Ngọc Tuấn (2020). "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và biến đổi nồng độ Carboxyhemoglobin ở nạn nhân ngộ độc khí CO trong đám cháy". Tạp chí Y học Thảm họa & Bỏng. Google Scholar
[3]
Bộ Y tế (2020). Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí ngộ độc khí Carbon Monoxide. Ban hành kèm theo Quyết định số 3610/QĐ-BYT. Google Scholar
[4]
Weaver L.K. (2009). "Carbon monoxide poisoning". New England Journal of Medicine, 360(12), pp. 1217-1225. Google Scholar
[5]
Sheridan R.L. (2016). "Fire-related inhalation injury". New England Journal of Medicine, 375(5), pp. 464-469. Google Scholar
[6]
Romanowski K.S., et al. (2023). "Predictors of airway injury after enclosed-space fire". Annals of Emergency Medicine, 82(3), pp. 289-298. Google Scholar
[7]
Walker P.F., et al. (2015). "Early intubation strategy in inhalation injury". Critical Care Medicine, 43(11), pp. 2514-2520. DOI: https://doi.org/10.1002/ams2.269 Google Scholar
[8]
Hampson N.B., et al. (2012). "Practice recommendations in the diagnosis, management, and prevention of carbon monoxide poisoning". American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 186(11), pp. 1095-1101.DOI: https://doi.org/10.1164/rccm.201207-1284CI Google Scholar
[9]
American Burn Association (2024). Advanced Burn Life Support (ABLS) Provider Manual. Chicago: American Burn Association. Google Scholar
[10]
Endorf F.W., Gamelli R.L. (2007). "Inhalation injury, pulmonary perturbations, and fluid resuscitation". Journal of Burn Care & Research, 28(1), pp. 80-83. Google Scholar