Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị chấn thương thận nặng (độ IV-V).
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu 117 nhân bệnh nhân chấn thương thận độ IV-V được chẩn đoán, điều trị, theo dõi và can thiệp mạch hoặc phẫu thuật từ tháng 1/2020 đến tháng 3/2024. Các thông số về tuổi, giới, nguyên nhân chấn thương thận, thời gian từ lúc chấn thương đến khi nhập viện, tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện, phân loại chấn thương thận (chấn thương thận đơn thuần, chấn thương thận phối hợp, chấn thương thận trên thận bệnh lý), xét nghiệm sinh hóa, huyết học, siêu âm, phân độ tổn thương chấn thương thận trên cắt lớp vi tính theo AAST (2018). Chẩn đoán các thể lâm sàng của chấn thương thận: giả phình động mạch, thông động tĩnh mạch, khối máu tụ-nước tiểu sau phúc mạc nhiễm trùng hoặc apxe hóa. Đánh giá kết quả điều trị gần (hậu phẫu) và xa sau 3 tháng.
Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 33,6 ± 16,6; nhóm tuổi hay gặp chấn thương thận nhất là từ 50-59 tuổi (26,5%). Tỷ lệ nam/nữ là 4,6/1. Chấn thương bụng kín kết hợp với chấn thương thận gặp nhiều nhất (42,7%), tiếp đến là chấn thương ngực kín (23,1%). Có 31 trường hợp có tổn thương phối hợp 2 cơ quan (26,5%). Phương pháp nút mạch và can thiệp chiếm tỉ lệ cao (53,8%), trong đó phương pháp nút mạch đơn thuần được sử dụng nhiều nhất (37,6%); tiếp đến là nút mạch kết hợp đặt thông JJ và nội soi làm sạch máu tụ sau 1 tuần (6,8%). Trong số 117 bệnh nhân chấn thương thận độ IV-V, tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả tốt lúc ra viện chiếm tỷ lệ cao nhất (40,1%), bệnh nhân đạt kết quả trung bình chiếm 36,8%, bệnh nhân đạt kết quả khá chiếm tỷ lệ thấp nhất (23,1%). Trong tổng số 87 bệnh nhân khám lại, có 2 bệnh nhân có biến chứng, di chứng xa sau khi khám lại là teo thận chiếm 2,3%, không ghi nhận trường hợp nào có biến chứng, di chứng khác (tăng huyết áp, suy thận).
Kết luận: Tỷ lệ chấn thương thận được điều trị bảo tồn ngày càng tăng, kể cả chấn thương thận độ IV, thậm chí một số trường hợp độ V.