Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả chăm sóc, điều trị trẻ sơ sinh dưới 32 tuần và một số yếu tố liên quan đến viêm ruột hoại tử.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 124 bệnh nhi là trẻ dưới 28 ngày tuổi và tuổi thai khi sinh dưới 32 tuần điều trị tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện bạch Mai từ tháng 4/2024 đến tháng 4/2025. Các triệu trứng lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi được thu thập. Các phương pháp điều trị (sử dụng thuốc, can thiệp thủ thuật) và kết quả chăm sóc, điều trị được mô tả.
Kết quả: Giới tính nam chiếm 54,8%. Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng: suy hô hấp (95%), refill kéo dài trên 3 giây (33,9%), ăn tiêu chậm (28,2%), hạ huyết áp (24%), hạ thân nhiệt (20,2%). Tỷ lệ các triệu chứng cận lâm sàng hay gặp: rối loạn đông máu (55,6%), hạ glucose máu (48,4%), giảm tiểu cầu (37,9%), giảm albumin máu (33,1%). Các biến chứng liên quan đến sinh non: nhiễm khuẩn sơ sinh (71,8%), còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động (29%), viêm ruột hoại tử (28,2%), loạn sản phế quản phổi (22,5%), xuất huyết não nhiều mức độ (21,8%). Tỷ lệ tử vong 24,2%, trong đó tỷ lệ tử vong ở các nhóm tuổi thai sinh non dưới 28 tuần và từ 28-32 tuần lần lượt là 71,4% và 18,2%. Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc viêm ruột hoại tử của trẻ: tuổi thai khi sinh (p = 0,023), tình trạng suy dinh dưỡng bào thai (OR = 4,668; 95% CI = 1,805-12,073; p = 0,001), còn ống động mạch có ảnh hưởng huyết động (OR = 4,176; 95% CI = 1,802-9,682; p = 0,001); hạ thân nhiệt (OR = 5,318; 95% CI = 2,119-13,347; p = 0,000).
Kết luận: Tỷ lệ tử vong và biến chứng của trẻ sơ sinh dưới 32 tuần còn cao, cần có chiến lược quản lý thai kỳ và chăm sóc, điều trị hiệu quả cho nhóm đối tượng này. Tuổi thai khi sinh, suy dinh dưỡng bào thai, hạ thân nhiệt, còn ống động mạch ảnh hưởng huyết động là các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh dưới 32 tuần.