Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ2-NCKH 05/03/2026

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT NÚT MẠCH HÓA CHẤT (TACE) TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CUBA ĐỒNG HỚI

Nguyễn Đức Hùng1,2, Nguyễn Đức Cường1,2, Lê Trọng Bỉnh3,4, Bùi Vĩ Nhân5,6, Hồ Danh Tuấn1,2, Võ Ngọc Tuấn1,2, Hoàng Công Thắng1,2
1 Department of Diagnostic Imaging - Vietnam-Cuba Friendship Hospital, Dong Hoi
2 Khoa Chẩn đoán hình ảnh-Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới
3 Department of Diagnostic Imaging - Faculty of Medicine and Pharmacy, Hue University
4 Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh - Trường Đại học Y- Dược, Đại học Huế
5 Oncology Department - Vietnam-Cuba Friendship Hospital, Dong Hoi
6 Khoa Ung bướu - Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD2.4420
22 Lượt xem
14 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào gan là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư tại Việt Nam. Nút mạch hóa chất qua đường động mạch (TACE) là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh nhân ở giai đoạn trung gian hoặc không còn chỉ định điều trị triệt căn.

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật TACE trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba Đồng Hới.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả kết hợp phân tích trên 50 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị bằng TACE từ tháng 3/2020 đến tháng 12/2024. Đáp ứng điều trị được đánh giá theo tiêu chuẩn mRECIST; các yếu tố liên quan đến đáp ứng được phân tích bằng hồi quy logistic.

Kết quả: TACE mang lại tỷ lệ đáp ứng cao, trong đó đáp ứng hoàn toàn tăng dần theo thời gian theo dõi. Kích thước khối u < 5 cm là yếu tố tiên lượng độc lập đối với đáp ứng sớm, trong khi u đơn ổ liên quan chặt chẽ đến đáp ứng tốt ở giai đoạn 3–6 tháng. Không ghi nhận biến chứng nặng hoặc tử vong liên quan đến thủ thuật.

Tài liệu tham khảo
[1]
Marrero JA, Kulik LM, Sirlin CB, Zhu AX, Finn RS, Abecassis MM, et al. Diagnosis, staging, and management of hepatocellular carcinoma: 2018 practice guidance by the American Association for the Study of Liver Diseases. Hepatology. 2018;68(2):723–750. Google Scholar
[2]
Galle PR, Forner A, Llovet JM, Mazzaferro V, Piscaglia F, Raoul JL, et al. EASL clinical practice guidelines: management of hepatocellular carcinoma. J Hepatol. 2018;69(1):182–236. Google Scholar
[3]
Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Quyết định số 3129/QĐ-BYT; 2020. tr. 11, 14–20. Google Scholar
[4]
Sieghart W, Hucke F, Peck-Radosavljevic M. Transarterial chemoembolization: modalities, indication, and patient selection. J Hepatol. 2015;62(5):1187–1195. Google Scholar
[5]
Llovet JM, Real MI, Montaña X, Planas R, Coll S, Aponte J, et al. Arterial embolisation or chemoembolisation versus symptomatic treatment in patients with unresectable hepatocellular carcinoma: a randomised controlled trial. Lancet. 2002;359(9319):1734–1739. Google Scholar
[6]
Lencioni R, de Baere T, Soulen MC, Rilling WS, Geschwind JFH. Lipiodol transarterial chemoembolization for hepatocellular carcinoma: a systematic review of efficacy and safety data. Hepatology. 2016;64(1):106–116. Google Scholar
[7]
Gaba RC, Lokken RP, Hickey RM, Lipnik AJ, Lewandowski RJ, Salem R, et al. Quality improvement guidelines for transarterial chemoembolization and embolization of hepatic malignancy. J Vasc Interv Radiol. 2017;28(9):1210–1223. Google Scholar
[8]
Llovet JM, Lencioni R. mRECIST for HCC: performance and novel refinements. J Hepatol. 2020;72(2):288–306. Google Scholar
[9]
Ichikawa T, Machida N, Sasaki H, Tenmoku A, Kaneko H, Negishi R, et al. Early prediction of the outcome using tumor markers and mRECIST in unresectable hepatocellular carcinoma patients who underwent transarterial chemoembolization. Oncology. 2016;91(6):317–330. Google Scholar
[10]
Domaratius C, Settmacher U, Malessa C, Teichgräber U. Transarterial chemoembolization with drug-eluting beads in patients with hepatocellular carcinoma: response analysis with mRECIST. Diagn Interv Radiol. 2020;27(1):85. Google Scholar