Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát tình hình điều trị nội trú cho người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh, từ đó có những thông tin cập nhật hỗ trợ việc thực hiện những đánh giá định kỳ về thực tiễn điều trị tăng huyết áp tại bệnh viện.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện thông qua hồi cứu dữ liệu điều trị nội trú cho người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh năm 2024.
Kết quả: Nghiên cứu trên 576 đợt điều trị nội trú tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ nữ giới 64,4%, nam giới 35,6%. Phân loại người bệnh theo JNC-7 có 40,6% tăng huyết áp độ 2; 4,3% tăng huyết áp độ 1 và 55,1% tăng huyết áp nguyên phát. Amlodipin là hoạt chất được chỉ định nhiều nhất (53,6%), tiếp theo là Captopril (44,1%), Bisoprolol (24,7%), Losartan (18,9%) và Telmisartan (13,4%); đa phần người bệnh được chỉ định từ 2-4 hoạt chất điều trị tăng huyết áp trong một đợt điều trị (67,5%). Phân tích theo nhóm cơ chế cho thấy nhóm thuốc chẹn kênh canxi được sử dụng nhiều nhất (78,3%), tiếp theo là nhóm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (55,2%), nhóm thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (45,8%), nhóm thuốc chẹn beta (31,9%) và thuốc lợi tiểu (19,4%). Đa số người bệnh có bệnh đồng mắc (89,8%) với rối loạn lipid máu chiếm tỷ lệ cao nhất (86,1%). Người bệnh có từ 3 bệnh đồng mắc trở lên có xu hướng tăng thời gian nằm viện.
Kết luận: Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng các hướng dẫn, chính sách về sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp phù hợp, an toàn, hiệu quả hơn trong tương lai. Cần cá thể hóa điều trị dựa trên đặc điểm người bệnh và quản lý toàn diện các bệnh đồng mắc để tối ưu hóa kết quả điều trị.