Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu có nếp nhăn ngang trán tại Bệnh viện Da liễu trung ương.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tiến cứu trên 223 đối tượng nghiên cứu đến khám tại Bệnh viện Da liễu trung ương có nếp nhăn ngang trán từ tháng 8 năm 2024 đến tháng 8 năm 2025.
Kết quả: Tuổi trung bình là 34,5 ± 8,6, nữ chiếm 76,2%. Nhóm tuổi 30–<50 chiếm tỉ lệ cao nhất (60,1%) về xuất hiện nếp nhăn. Về điều trị, bôi kem dưỡng chiếm 56,5%, tiếp đến không can thiệp (18,8%) và các phương pháp xâm lấn ít phổ biến. Kiểu hình nếp nhăn type I đầy đủ chiếm ưu thế (88,3%) và vị trí nếp nhăn toàn bộ chiều rộng trán phổ biến nhất (88,6%). Nếp nhăn động chủ yếu ở mức trung bình, nếp nhăn tĩnh chủ yếu nhẹ hoặc tối thiểu. Điểm FLGS nếp nhăn cả động và tĩnh tăng theo tần suất thói quen nhăn trán. Mức độ nếp nhăn tĩnh thấp hơn ở những người sử dụng kem chống nắng và tăng theo tuổi, với nhóm ≥50 tuổi có điểm FLGS cao hơn các nhóm tuổi nhỏ hơn.
Kết luận: Nếp nhăn ngang trán xuất hiện chủ yếu ở nhóm tuổi 30–<50. Kiểu hình type I và vị trí nếp nhăn toàn bộ chiều rộng trán chiếm ưu thế. Mức độ nếp nhăn động liên quan với thói quen nhăn trán, trong khi mức độ nếp nhăn tĩnh liên quan với thói quen nhăn trán, thói quen sử dụng kem chống nắng và tuổi.