Bài báo khoa học Tập 67 Số 2 02/03/2026

ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ NỘI SOI ĐƯỜNG MẬT QUA ĐƯỜNG HẦM KEHR Ở BỆNH NHÂN CÒN SỎI SAU PHẪU THUẬT LẤY SỎI ĐƯỜNG MẬT

Huỳnh Thanh Long1,2,3,4, Nguyễn Tạ Quyết5,6,7,8, Lê Nguyên Khôi9,10, Lê Đức Anh Tuấn9,10
1 Nguyen Tat Thanh University
2 Nguyen Tri Phuong Hospital
3 Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
4 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
5 Binh Dan Hospital
6 Ho Chi Minh City University of Medicine and Pharmacy
7 Bệnh viện Bình Dân
8 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
9 Pham Ngoc Thach University of Medicine
10 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
DOI: 10.52163/yhc.v67i2.4338
19 Lượt xem
10 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh nội soi đường mật qua đường hầm Kehr ở bệnh nhân còn sỏi sau phẫu thuật lấy sỏi đường mật tại Bệnh viện Bình Dân.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 207 bệnh nhân được nội soi đường mật qua ống Kehr tại Khoa Gan Mật, Bệnh viện Bình Dân từ 01/2022 đến 04/2025. Thu thập tuổi, giới, bệnh nền, phân loại ASA; kết quả siêu âm và X-quang đường mật qua Kehr trước nội soi; và đặc điểm khi nội soi (mức độ trưởng thành đường hầm, vị trí và gánh nặng sỏi, tình trạng tắc nghẽn, viêm/dễ chảy máu ống mật). Phân tích mô tả.

Kết quả: Tuổi trung bình 59,46 ± 13,85 (18–95); nữ 64,3% (nữ/nam ≈ 1,8:1). Không có bệnh nền chiếm 76,3%; đa số ASA II (84,1%) và ASA III (15,0%). Siêu âm ghi nhận sỏi trong gan 60,9%, ngoài gan/ống mật chủ 12,1% và phối hợp 27,0%. Khi nội soi, đường hầm Kehr ổn định 96,7%. Sỏi gây tắc nghẽn gặp ở 20,3%. Về phân bố sỏi quan sát được khi nội soi: trong gan 47,4%, ngoài gan 33,8%, phối hợp 18,8%; gánh nặng sỏi <5 viên 64,3% và sỏi cây 7,2%. Ống mật viêm, dễ chảy máu ghi nhận 10,1%.

Kết luận: Bệnh nhân còn sỏi sau mổ được nội soi qua đường hầm Kehr chủ yếu là người lớn tuổi, nữ, ASA II–III; sỏi trong gan chiếm ưu thế. Đường hầm Kehr đa số trưởng thành tốt, thuận lợi cho tiếp cận nội soi.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bùi Mạnh Côn, Nguyễn Văn Xuyên, Nguyễn Đức Trung. Đánh giá hiệu quả của phương pháp tán sỏi qua đường hầm Kehr trong điều trị triệt để sỏi mật ở người lớn tuổi. Tạp chí Y học Thực hành. 2010; 11:104-107. Google Scholar
[2]
Đỗ Sơn Hải, Nguyễn Quang Nam, Lại Bá Thành, et al. Kết quả nội soi tán sỏi qua đường hầm dẫn lưu Kehr bằng điện thủy lực điều trị sỏi trong gan tại Bệnh viện Quân y 103. Journal of 108 - Clinical Medicine and Pharmacy. 2021. Google Scholar
[3]
Lê Quan Anh Tuấn. Lấy sỏi mật qua đường hầm Kehr. Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2009;7(4):356-361. Google Scholar
[4]
Phan Đình Tuấn Dũng, Bùi Đặng Hồng Ngọc. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ở bệnh nhân sỏi đường mật tái phát. Tạp chí Y Dược Huế. 2024;14(1):124. Google Scholar
[5]
Lê Quan Anh Tuấn. Lấy sỏi mật qua đường hầm ống Kehr bằng ống soi mềm. Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2019;13(3):170-176. Google Scholar
[6]
Zhang L, Li L, Yao J, Chu F, Zhang Y, Wu H. Residual choledocholithiasis after choledocholithotomy T-tube drainage: what is the best intervention strategy? BMC Gastroenterol. 2022;22(1):509. doi:10.1186/s12876-022-02601-6. Google Scholar
[7]
Tian J, Li JW, Chen J, Fan YD, Bie P, Wang SG, Zheng SG. Laparoscopic hepatectomy with bile duct exploration for the treatment of hepatolithiasis: an experience of 116 cases. Dig Liver Dis. 2013;45(6):493-498. doi: 10.1016/j.dld.2013.01.003. Google Scholar
[8]
Le LV, Vu QV, Le TV, et al. Outcomes of laparoscopic choledochotomy using cholangioscopy via percutaneous-choledochal tube for the treatment of hepatolithiasis and choledocholithiasis: a preliminary Vietnamese study. Ann Hepatobiliary Pancreat Surg. 2024;28(1):42-47. doi:10.14701/ahbps.23-085. Google Scholar