Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ1-NCKH 27/01/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA LÁC CÓ QUÁ HOẠT CƠ CHÉO DƯỚI TẠI BỆNH VIỆN MẮT TRUNG ƯƠNG NĂM 2025

Lê Thị Thế1,2,3,4, Nguyễn Văn Huy5,6, Nguyễn Thanh Vân2,4,5,6
1 Vinh Phuc General Hospital
2 University of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
3 Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc
4 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Vietnam National Eye Hospital
6 Bệnh viện Mắt Trung ương
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD1.4293
13 Lượt xem
12 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng của lác có quá hoạt cơ chéo dưới tại Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên trẻ em dưới 16 tuổi được chẩn đoán lác có quá hoạt cơ chéo dưới tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ 1/4/2025 đến tháng 31/10/2025.

Kết quả: Có 48 bệnh nhân với 69 mắt phù hợp với tiêu chuẩn nghiên cứu. Tuổi trung bình 7,35 ± 3,76; nhỏ nhất 2 tuổi, lớn nhất 16 tuổi. Nam chiếm 47,9%, nữ chiếm 52,1%. Đánh giá tình trạng nhược thị, có 32 mắt (56,1%) không nhược thị, 12 mắt (21,1%) nhược thị nhẹ, 11 mắt (19,3%) nhược thị trung bình, 2 mắt (3,5%) nhược thị nặng. Thị giác hai mắt có ở 12 bệnh nhân (33,3%), không có thị giác hai mắt ở 24 bệnh nhân (66,7%). Mức độ quá hoạt cơ chéo dưới thường gặp mức độ 2+ chiếm 58%, mức độ 1+ chiếm 18,8%, mức độ 3+ chiếm 21,8%, mức độ 4+ chiếm 1,4%. Độ lác đứng dưới 10 PD chiếm 13,1%, độ lác 10-20PD chiếm 80,4%, > 20 PD chiếm 6,5%. Phần lớn bệnh nhân quá hoạt cơ chéo dưới có các hình thái lác phối hợp kèm theo, trong đó lác trong chiếm 29,2%, lác ngoài chiếm 35,4%, hội chứng chữ V chiếm 4,2%, hội chứng DVD chiếm 4,2%, không có hình thái lác kết hợp chiếm 29,2%.

Kết luận: Quá hoạt cơ chéo dưới là một tình trạng rối loạn vận nhãn thường gặp, phồ biến nhất là quá hoạt cơ chéo dưới mức độ 2+, 3+ với độ lác đứng từ 10-20 PD và thường kết hợp với các hình thái khác: lác trong, lác ngoài, hội chứng chữ V, DVD. Vì vậy khi điều trị cần quan tâm tìm các hình thái lác phối hợp.

Tài liệu tham khảo
[1]
Ozsoy E, Gunduz A, Ozturk E. Inferior oblique muscle overaction: Clinical features and surgical management. Journal of Ophthalmol, 2019: 9713189. Google Scholar
[2]
Salmon J.F, Kanski J.J. Kanski’s clinical ophthalmology: a systematic approach, 9th edition. Erscheinungsort nicht ermittelbar: Elsevier, 2020. Google Scholar
[3]
Sekeroglu H.T, Dikmetas O, Sanac A.S et al. Inferior oblique muscle weakening: Is it possible to quantify its effects on horizontal deviations? Journal of Ophthalmol, 2012, 2012: 813085. Google Scholar
[4]
Nguyễn Văn Quang. Đánh giá kết quả lâu dài của phẫu thuật điều trị quá hoạt cơ chéo dưới trẻ em. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2014. Google Scholar
[5]
Đặng Thị Phương. Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị lác trong cơ năng bẩm sinh. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2008. Google Scholar