Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ1-NCKH 27/01/2026

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI Ở SẢN PHỤ CON SO ĐỦ THÁNG TẠI BỆNH VIỆN A THÁI NGUYÊN

Lê Thị Thu Hà1,2, Phạm Mỹ Hoài2,3, Nguyễn Tuấn Minh4,5, Nguyễn Thị Mơ1,2
1 University of Medicine and Pharmacy, Thai Nguyen University
2 Trường Đại học Y dược, Đại học Thái Nguyên
3 niversity of Medicine and Pharmacy, Thai Nguyen University
4 Hanoi Obstetrics & Gynecology Hospital
5 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD1.4286
14 Lượt xem
11 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai ở sản phụ con so đủ tháng tại Khoa Sản, Bệnh viện A Thái Nguyên.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu được tiến hành dựa trên 704 hồ sơ bệnh án của các sản phụ con so đủ tháng từ ngày 1/9/2024 đến 31/12/2024.

Kết quả: Tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ con so là 56,1%, trong đó tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm sản phụ dưới 35 tuổi là 55,7%, còn ở nhóm trên 35 tuổi là 70,6%. Xét theo cân nặng thai nhi, nhóm dưới 3500g có tỷ lệ mổ lấy thai là 53,1%, trong khi nhóm trên 3500g là 68%. Chiều cao của mẹ có mối tương quan nghịch với tỷ lệ mổ lấy thai, với hệ số hồi quy là -0,0607. Tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm thai tự nhiên là 54,7%, trong khi ở nhóm thai hỗ trợ sinh sản là 79,5%.

Kết luận: Các yếu tố có ý nghĩa thống kê đối với chỉ định mổ lấy thai bao gồm: cân nặng thai nhi từ 3500g trở lên (OR = 0,532; p = 0,001), chiều cao của mẹ (tương quan nghịch có ý nghĩa, p < 0,05) và hình thức thụ thai bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản (OR = 3,2; p = 0,002). Ngoài ra, tỷ lệ mổ lấy thai cũng có xu hướng tăng dần theo nhóm tuổi mẹ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Betran A.P, Torloni M.R et al. WHO statement on caesarean section rates. International Journal of Obstetrics & Gynaecology, 2015, 123 (5): 667-670. doi: 10.1111/1471-0528.13526. Google Scholar
[2]
Martin J.A, Hamilton B.E, Osterman M.J.K. Births in the United States, 2023. NCHS Data Brief, 2024 (507): 10.15620/cdc/158789. doi: 10.15620/cdc/158789 Google Scholar
[3]
Gholitabar M, Ullman R, James D, Griffiths M and Guideline Development Group of the National Institute for Health and Clinical Excellence. Caesarean section: summary of updated NICE guidance. BMJ, 2011, 343: d7108. doi: 10.1136/bmj.d7108. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Bình. Nhận xét tình hình mổ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên 6 tháng đầu năm 2012. Tạp chí Y học thực hành, 2013, 11: 144-146. Google Scholar
[5]
Tống Thị Khánh Hằng. Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến mổ lấy thai con so đủ tháng tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên, 2020. Google Scholar
[6]
Tô Mai Chi. Tỷ lệ mổ lấy thai và các yếu tố liên quan ở sản phụ mang thai con so tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai năm 2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 540 (2): 100-103. doi: 10.51298/vmj.v540i2.10354. Google Scholar
[7]
Kelly S, Sprague A et al. Bartholomew. Examining caesarean section rates in Canada using the Robson classification system. J Obstet Gynaecol Can, 2013, 35 (3): 206-214. doi: 10.1016/S1701-2163(15)30992-0. Google Scholar
[8]
Nguyễn Việt Hoàng và cộng sự. Chỉ định mổ lấy thai con so nguyên nhân do thai tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 522 (1): 335-339. doi:10.51298/vmj.v522i1.4290. Google Scholar
[9]
Macrosomia: ACOG practice bulletin summary, number 216. Obstetrics & Gynecology, 2020, 135 (1): 246-248. doi: 10.1097/AOG.0000000000003607. Google Scholar
[10]
Marbaniang S.P, Lhungdim H, Chaurasia H. Effect of maternal height on the risk of caesarean section in singleton births: evidence from a large-scale survey in India. BMJ Open, 2022, 12 (1): e054285. doi: 10.1136/bmjopen-2021-054285. Google Scholar
[11]
Mai Trọng Dũng, Nguyễn Đức Thắng và cộng sự. Phân tích các yếu tố liên quan đến chỉ định phẫu thuật lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2021. Tạp chí Phụ Sản, 2022, 20 (3): 46-49. doi: 10.46755/vjog.2022.3.1506. Google Scholar