Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ1-NCKH 27/01/2026

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG RỐI LOẠN NUỐT CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG, BỆNH VIỆN BẠCH MAI BẰNG THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG NUỐT CỦA MANN

Lê Thị Phương Dung1,2, Lương Tuấn Khanh1,2, Nguyễn Thị Kim Liên3,4
1 Rehabilitation Center, Bach Mai Hospital
2 Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai
3 Department of Rehabilitation, Hanoi Medical University
4 Bộ môn Phục hồi chức năng, Trường Đại học Y Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD1.4254
34 Lượt xem
11 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Bước đầu đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng rối loạn nuốt cho người bệnh đột quỵ não bằng thang điểm đánh giá khả năng nuốt của Mann (MASA).

Đối tượng và phương pháp: 30 người bệnh được chẩn đoán đột quỵ não điều trị tại Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu tiến cứu so sánh trước-sau, chọn mẫu thuận tiện.

Kết quả: Tỉ lệ nuôi ăn qua thông dạ dày của người bệnh rối loạn nuốt ban đầu là 93,3% giảm còn 23,7% khi ra viện (p < 0,001). Điểm MASA trung bình trước và sau phục hồi chức năng thay đổi tăng từ 151,3 ± 20,24 lên 165,7 ± 19,77 (p < 0,001) cùng với sự thay đổi có ý nghĩa thống kê mức độ rối loạn nuốt và hít sặc theo phân loại của MASA. Kỹ thuật phục hồi chức năng nuốt được sử dụng nhiều nhất là kỹ thuật kích thích xúc giác nhiệt, thay đổi kết cấu thức ăn, nghiệm pháp Shaker và kỹ thuật vận động miệng. Có mối liên quan rõ rệt giữa điểm pha hầu với kỹ thuật kích thích xúc giác nhiệt (OR = 0,55; 95% CI = 0,32-0,92). Nhóm bệnh nhân điểm nghe hiểu theo MASA ³ 6, có mối liên hệ ngược chiều giữa điểm điều hợp lưỡi với tập vận động miệng (OR = 0,45, 95% CI = 0,20-0,99).

Kết luận: Phục hồi chức năng là phương thức quan trọng giúp cải thiện chức năng nuốt ở người bệnh đột quỵ não. Thang điểm MASA hữu ích trong lượng giá lâm sàng cho người bệnh rối loạn nuốt.

Tài liệu tham khảo
[1]
Feigin V.L et al. World Stroke Organization (WSO): Global stroke fact sheet 2022. Int J Stroke, 2022, 17 (1): 18-29. doi: 10.1177/17474930211065917 Google Scholar
[2]
Balcerak P, Corbiere S et al. Post-stroke dysphagia: Prognosis and treatment-a systematic review of rct on interventional treatments for dysphagia following subacute stroke. Front Neurol, 2022, 13: 823189, doi: 10.3389/fneur.2022.823189 Google Scholar
[3]
Nguyễn Ngọc Ánh, Nguyễn Huy Quân và cộng sự. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng rối loạn nuốt ở người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2024. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2025, 20 (số đặc biệt): 8-17. doi: 10.52389/ydls.v20i0.2757. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Khoa, Đỗ Đào Vũ, Cao Minh Châu. Kết quả phục hồi chức năng sớm rối loạn nuốt ở bệnh nhân đột quỵ não. Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành đột quỵ và các bệnh thần kinh liên quan, lần thứ IX - 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 519 (số đặc biệt): 190-197. https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/3712 Google Scholar
[5]
Nguyễn Mạnh Huynh, Võ Hồng Khôi và cộng sự. Kết quả phục hồi chức năng sớm với rối loạn nuốt ở người bệnh nhồi máu não cấp điều trị tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 506 (1): 137-140. doi: 10.51298/vmj.v506i1.1183 Google Scholar
[6]
Carnaby G.D, LaGorio L et al. Exercise-based swallowing intervention (McNeill dysphagia therapy) with adjunctive NMES to treat dysphagia post-stroke: A double-blind placebo-controlled trial. J Oral Rehabil, 2020, 47 (4): 501-510. doi: 10.1111/joor.12928 Google Scholar
[7]
Hota S et al. Outcomes of Dysphagia Following Stroke: Factors Influencing Oral Intake at 6 Months After Onset. J Stroke Cerebrovasc Dis, 2021, 30 (9): 105971. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2021.105971 Google Scholar
[8]
Wilmskoetter J, Bonilha L et al. Factors influencing oral intake improvement and feeding tube dependency in patients with post-stroke dysphagia. J Stroke Cerebrovasc Dis, 2019, 28 (6): 1421-1430. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2019.03.031 Google Scholar
[9]
Fairfield C.A, Smithard D.G. Assessment and management of dysphagia in acute stroke: An initial service review of international practice. Geriatrics (Basel), 2020, 5 (1): 4. doi: 10.3390/geriatrics5010004. Google Scholar