Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ1-NCKH 27/01/2026

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KẾT QUẢ SINH THIẾT GAI RAU TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Hồ Khánh Dung1,2, Nguyễn Duy Ánh3,4, Mai Trọng Hưng5,6, Nguyễn Thị Sim1,2, Ngô Thị Hương5,6
1 Phenikaa University Hospital
2 Bệnh viện Đại học Phenikaa
3 National Obstetrics and Gynecology Hospital
4 Bệnh viện Phụ sản Trung ương
5 Hanoi Obstetrics and Gynecology Hospital
6 Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD1.4222
12 Lượt xem
13 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét kết quả sinh thiết gai rau tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nhằm đánh giá hiệu quả chẩn đoán của kỹ thuật.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 102 thai phụ đã thực hiện sinh thiết gai rau tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 1/2022 đến tháng 6/2024.

Kết quả: Tỷ lệ lấy mẫu thành công 100%, không có biến chứng. Bất thường di truyền được phát hiện ở 49,02% trường hợp, bao gồm hội chứng Down (18,63%), hội chứng Edwards (4,90%), hội chứng Patau (0,98%), bất thường nhiễm sắc thể giới tính (3,92%), bất thường kết hợp nhiễm sắc thể giới tính và hội chứng Edwards (0,98%), và rối loạn đơn gen (19,61%). Có mối tương quan có ý nghĩa giữa NIPS nguy cơ cao và kết quả sinh thiết gai rau bất thường (p < 0,05). 13 trường hợp siêu âm bất thường các hệ cơ quan, bất thường nhiễm sắc thể 11 trường hợp (86,96%). 49,02% đình chỉ thai nghén do phát hiện bất thường nặng, 50,98% tiếp tục theo dõi thai bình thường.

Kết luận: Sinh thiết gai rau là phương pháp chẩn đoán trước sinh sớm, chính xác và an toàn, đặc biệt hiệu quả trong nhóm thai có NIPS nguy cơ cao và bất thường siêu âm.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bộ Y tế. Đề án Tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh: Giảm gánh nặng bệnh tật bẩm sinh, nâng cao chất lượng dân số, 28-01-2020. https://moh.gov.vn/chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia/-/asset_publisher/7ng11fEWgASC/content/-e-an-tam-soat-chan-oan-ieu-tri-mot-so-benh-tat-truoc-sinh-va-so-sinh-giam-ganh-nang-benh-tat-bam-sinh-nang-cao-chat-luong-dan-so Google Scholar
[2]
Maines J, Montero F.J. Chorionic villus sampling. In: StatPearls. Treasure Island (FL), 2025. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/33085448/ Google Scholar
[3]
Khalil A, Akolekar R et al. Chorionic villus sampling at 11 to 13 weeks of gestation and hypertensive disorders in pregnancy. Obstet Gynecol, 2010, 116 (2 Pt 1): 374-380. doi: 10.1097/AOG.0b013e3181e7ce75. Google Scholar
[4]
Practice Bulletin No. 162: Prenatal Diagnostic Testing for Genetic Disorders. Obstet Gynecol, 2016, 127 (5): e108-e122. doi: 10.1097/AOG.0000000000001405 Google Scholar
[5]
Martins A.T, Francisco C et al. Chorionic villus sampling: 10 years of experience in a university referral center. J Gynecol Obstet Hum Reprod, 2020, 49 (5): 101715. doi: 10.1016/j.jogoh.2020.101715 Google Scholar
[6]
Srebniak M.I, Weerts M et al. Chorionic villus sampling for rapid confirmation of high-risk NIPT results for trisomy 21, 18, and 13. Prenat Diagn, 2025. 45 (8): 988-993. doi: 10.1002/pd.6837. Google Scholar
[7]
Hui L, Ellis K et al. Position statement from the International Society for prenatal diagnosis on the use of non-invasive prenatal testing for the detection of fetal chromosomal conditions in singleton pregnancies. Prenat Diagn, 2023, 43 (7): 814-828. doi: 10.1002/pd.6357 Google Scholar
[8]
Wang Y, Chen Y et al. Prenatal diagnosis of Duchenne muscular dystrophy revealed a novel mosaic mutation in Dystrophin gene: a case report. BMC Med Genet, 2020, 21 (1): 222. doi: 10.1186/s12881-020-01157-0 Google Scholar
[9]
Cherian A.G, Kamath V et al. Spectrum of Chromosomal Abnormalities Detected by Conventional Cytogenetic Analysis Following Invasive Prenatal Testing of Fetuses with Abnormal Ultrasound Scans. J Obstet Gynaecol India, 2022, 72 (Suppl 1): 209-216. doi: 10.1007/s13224-022-01626-x Google Scholar