Bài báo khoa học Tập 67 Số 1 15/01/2026

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI KẼ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG NĂM 2024

Nguyễn Thị Bích Ngọc1,2, Nguyễn Thị Trang1,2, Nguyễn Công Hoàng Anh1,2
1 National Lung Hospital
2 Bệnh viện Phổi Trung ương
Tác giả liên hệ: NgocN4@hotmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v67i1.4160
20 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi kẽ tại Bệnh viện Phổi Trung ương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 124 người bệnh được chẩn đoán bệnh phổi kẽ, điều trị tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 9-12 năm 2024. Các thang đo bao gồm thang điểm chất lượng cuộc sống EQ-5D-5L và thang đo VAS.

Kết quả: Nhóm tuổi từ 61-70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (40,3%), trong khi nhóm tuổi 30-40 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,5%). Tuổi trung bình của người bệnh là 61,1. Người bệnh nữ chiếm ưu thế với tỷ lệ 66,1%. Về các khía cạnh của chất lượng cuộc sống theo thang điểm EQ-5D-5L: 55,6% người bệnh gặp ảnh hưởng đến đi lại, 41,1% người bệnh cần hỗ trợ chăm sóc, 53,2% người bệnh bị ảnh hưởng đến sinh hoạt thường lệ, 52,4% người bệnh cảm thấy đau/khó chịu và 49,2% người bệnh có lo lắng/u sầu. Chất lượng cuộc sống của người bệnh giảm với điểm trung bình là 0,8065. Điểm chất lượng cuộc sống của các khía cạnh tỉ lệ thuận với chỉ số SpO2 và tỉ lệ nghịch với điểm mMRC.

Kết luận: Chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi kẽ tại Bệnh viện Phổi Trung ương bị suy giảm, đặc biệt ở các khía cạnh về thể chất và tinh thần. Tình trạng suy giảm này liên quan mật thiết với các chỉ số chức năng hô hấp như SpO2 và mMRC. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng việc phát hiện và can thiệp sớm có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Bộ Y tế. Quyết định số1005/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Bệnh phổi mô kẽ”, ngày 22 tháng 02 năm 2023. Google Scholar
[2]
World Health Organization. Health promotion glossary [Internet]. 1998 [cited 2025 Aug 25]. Available from: https://www.who.int/publications/i/item/WHO-HPR-HEP-98.1 Google Scholar
[3]
Maqhuzu P.N, Szentes B.L, Kreuter M, Bahmer T, Kahn N, Claussen M, et al. Determinants of health-related quality of life decline in interstitial lung disease. Health Qual Life Outcomes, 2020, 18: 334. 10.1186/s12955-020-01569-4. Google Scholar
[4]
Trần Ngọc Anh, Chu Thị Hạnh. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số căn nguyên của bệnh phổi mô kẽ. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 519 (2): 57-60. https://doi.org/10.51298/vmj.v519i2.3615. Google Scholar
[5]
Szentes B.L, Kreuter M, Bahmer T, Birring S.S,Claussen M, Waelscher J et al. Quality of life assessment in interstitial lung diseases:a comparison of the disease-specific K-BILD with the Google Scholar
[6]
generic EQ-5D-5L. Respir Res, 2018, 19 (1): 101. 10.1186/s12931-018-0798-5. Google Scholar
[7]
Phua G, Tan G.P, Phua H.P, Lim W.Y, Neo H.Y, Chai G.T. Health-related quality of life in a multiracial Asian interstitial lung disease cohort. J Thorac Dis, 2022, 14 (12): 4713-24. 10.21037/jtd-22-1011. Google Scholar
[8]
Kanjrawi A.A, Mathers L, Webster S, Corte T.J, Carey S.Nutritional status and quality of life in interstitial lung disease: a prospective cohort study. BMC Pulm Med, 2021, 21 (1): 51. 10.1186/s12890-021-01618-3. Google Scholar