Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ22-Hội Hóa sinh Y học VN 09/01/2026

NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH CẤP VÀ BÁN TRƯỜNG DIỄN CỦA VIÊN NANG CỨNG TIÊU TÍCH GIÁNG PHÌ-HV TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM

Lê Huyền Trang1,2, Phạm Quang Huy3,4, Lữ Đoàn Hoạt Mười5,6, Nguyễn Thị Ngọc Hà5,6, Nguyễn Thị Như Quỳnh7,8, Nguyễn Trường Nam7,8, Đỗ Thị Huệ9,10
1 Viet Nhat Traditional Medicine Clinic
2 Phòng khám chuyên khoa Y học cổ truyền Việt Nhật
3 Trung Vuong University
4 Trường Đại học Trưng Vương
5 Vietnam University of Traditional Medicine
6 Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam
7 Phenikaa University
8 Đại học Phenikaa
9 Faculty of Medicine, Hanoi University of Business and Technology
10 Khoa Y, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD22.4142
20 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định mức độ an toàn của viên nang cứng Tiêu tích giáng phì-HV thông qua thử nghiệm độc tính cấp và độc tính bán trường diễn trên mô hình động vật.

Phương pháp nghiên cứu: Độc tính cấp đường uống được đánh giá trên chuột nhắt trắng theo phương pháp Litchfield-Wilcoxon. Độc tính bán trường diễn được tiến hành trên chuột cống trắng với thời gian dùng thuốc liên tục 28 ngày, tuân thủ các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế Việt Nam.

Kết quả: Trong thử nghiệm độc tính cấp, viên nang cứng Tiêu tích giáng phì-HV được sử dụng với liều cao nhất tương đương 20,83 lần liều dự kiến trên người (45 viên/kg, tương ứng 18,45g cao/kg) không gây tử vong và không ghi nhận các biểu hiện nhiễm độc trên chuột nhắt, do đó không xác định được LD₅₀. Ở nghiên cứu độc tính bán trường diễn, chuột được cho uống chế phẩm với liều 442,8 mg/kg/ngày và 1328,4 mg/kg/ngày không xuất hiện thay đổi bất thường về tình trạng chung, các chỉ số huyết học, sinh hóa máu cũng như hình ảnh đại thể và mô bệnh học gan, thận; sự khác biệt giữa nhóm dùng thuốc và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Kết luận: Viên nang cứng Tiêu tích giáng phì-HV không gây độc tính cấp và cho thấy tính an toàn khi dùng đường uống trong 28 ngày ở các mức liều khảo sát trên động vật thực nghiệm.

Tài liệu tham khảo
[1]
Phạm Vũ Khánh và cộng sự. Lão khoa Y học cổ truyền. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 98-116. Google Scholar
[2]
Pirillo A, Casula M, Olmastroni E et al. Global epidemiology of dyslipidaemias. Nature Reviews Cardiology, 2021, 18 (10): 689-700. Google Scholar
[3]
Nammi S, Sreemantula S, Roufogalis B.D. Protective effects of ethanolic extract of Zingiber officinale rhizome on the development of metabolic syndrome in high-fat diet-fed rats. Basic Clin Pharmacol Toxicol, 2009, 104 (5): 366-373. Google Scholar
[4]
Megalli S, Davies N.M, Roufogalis B.D. Anti-hyperlipidemic and hypoglycemic effects of Gynostemma pentaphyllum in the Zucker fatty rat. Journal of Pharmacy and Pharmaceutical Sciences, 2006, 9 (3): 281-291. Google Scholar
[5]
Du H, You J et al. Antiobesity and hypolipidemic effects of lotus leaf hot water extract with taurine supplementation in rats fed a high fat diet. Journal of Biomedical Science, 2010, 17 (Supp 1): S42. Google Scholar
[6]
World Health Organization. General guidelines for methodologies on research and evaluation of traditional medicine, 2000. Google Scholar
[7]
Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế. Quyết định số 141/QĐ-K2ĐT ngày 27 tháng 10 năm 2015 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu”. Google Scholar