Bài báo khoa học Tập 66 Số 6 12/12/2025

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ, ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CỔ TRƯỚNG MỚI PHÁT HIỆN Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2024 - 2025

Nguyễn Trọng Nhân1, Huỳnh Hiếu Tâm1, Trần Đình Trí1
1 1. Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
DOI: 10.52163/yhc.v66i6.3967
37 Lượt xem
21 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Xơ gan là giai đoạn cuối của mọi bệnh gan mạn tính, cũng là một gánh nặng lớn trong việc chăm sóc sức khỏe toàn cầu. Cổ trướng là một biến chứng phổ biến của xơ gan liên quan đến tiên lượng xấu.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ mới phát hiện và một số đặc điểm cận lâm sàng, kết quả điều trị của bệnh nhân cổ trướng mới phát hiện ở bệnh nhân xơ gan.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang với đối tượng là những bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú tại Khoa Nội tiêu hóa – Huyết học Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ được chẩn đoán xơ gan.

Kết quả: Trong những bệnh nhân xơ gan nhập viện Khoa Nội tiêu hóa – Huyết học tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ tỷ lệ cổ trướng mới phát hiện là 3.9%. Tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1. Độ tuổi trung bình là 59.69±13.01 tuổi. Thiếu máu trung bình với mức Hb trung bình 10.05 ± 2,58 g/dl. Giảm albumin máu ≤ 35g/dl là 96,9%. Siêu âm: dịch cổ trướng lượng trung bình chiếm đa số 59,3%. Kết quả điều trị cổ trướng có 93,8% bệnh nhân đáp ứng với điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Thị Diễm, Kha Hữu Nhân, Bồ Kim Phương (2019), “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điện tim và liên quan của QTc với mức độ suy gan theo Child-Pugh ở bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, (19), tr. 1-8. Google Scholar
[2]
Võ Thị Mỹ Dung, Đỗ Văn Dũng (2016), “Tỷ lệ và các yếu tố liên quan tổn thương thận cấp trên bệnh nhân xơ gan mất bù nhập viện”, Nghiên cứu Y học, Y học TP Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 20 (6), tr. 163-170. Google Scholar
[3]
Nguyễn Xuân Huyên (2008), Xơ gan, Bách khoa thư bệnh học tập III, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, tr 549-552. Google Scholar
[4]
Tạ Quế Phương (2014), Nghiên cứu giá trị tỷ lệ Na/K niệu và Na niệu 24 giờ trong tiên lượng điều trị điều trị lợi tiểu ở bệnh nhân xơ gan, Luận văn thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. Google Scholar
[5]
Võ Duy Thông (2021), “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân xơ gan có biến chứng não gan", Tạp chí Y học Việt Nam, tập 498, 1, 2, tr. 93-97. Google Scholar
[6]
Trần Thanh Toàn, Huỳnh Hiếu Tâm (2022), “Nguyên nhân, Biến chứng bệnh xơ gan cổ trướng và kết quả điều trị cổ trướng ở bệnh nhân xơ gan”, Tạp chí Y dược học Cần Thơ, (53), tr. 133-140. Google Scholar
[7]
European Association for the study of the liver (2010), “EASL clinical practice guidelines on the management of ascites spontaneuous bacterial peritonities and hepatorenal syndrome on cirrhosis”, Journal of Hepatology, 53, pp. 397-417 Google Scholar
[8]
Florence Wong (2012) "Management of ascites in cirrhosis", Journal of Gastroenterology and Hepatology, 27, pp .11-20. Google Scholar
[9]
Otávio Marcos, Da Silva, et al (2014), "Comparative study of spot urine Na/K ratio and 24-hour urine sodium in natriuresis evaluation of cirrhotic patients with ascites", GE Jornal Portuguees de Gastrenterologia, 21(1), pp. 15-20. Google Scholar
[10]
Park J.E, M.D., Chang Hyeong Lee, M.D (2010), "Diagnostic usefulness of the random urine Na/K ratio in cirrhotic patients with ascites: a pilot study", The Korean Journal of Hepatology, 16, pp. 66- 74. Google Scholar
[11]
Tian Lan, Ming Chen, Chengwei Tang, Piere Deltenre (2024), Recent developments in the management of ascites in cirrhosis, United European Gastroenterol, 12 (2), pp. 261-272. Google Scholar
[12]
Virendra Singh, et al (2023), Asia–Pacific association for study of liver guidelines on management of ascites in liver disease, Hepatology International, 17(4), pp. 792–826. Google Scholar