Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ22-Hội Hóa sinh Y học VN 12/01/2026

38. KHẢO SÁT NỒNG ĐỘ BETA-CROSSLAPS Ở BỆNH NHÂN CHẨN ĐOÁN LOÃNG XƯƠNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO HẤP THỤ X QUANG THƯỜNG QUY

Nguyễn Huỳnh Kim Sơn1, Văn Hy Triết1, Trần Thị Huệ Vân1, Nguyễn Bảo Toàn2, Trần Văn Nam2
1 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
2 Trung tâm Y khoa Medic
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD22.3795
21 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát nồng độ beta-crosslaps huyết thanh trên các bệnh nhân chẩn đoán loãng xương bằng phương pháp đo hấp thụ X quang thường quy và đánh giá vai trò của beta-crosslaps trong mô hình đa biến chẩn đoán loãng xương

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 93 người đến khám tại Trung tâm Y khoa Medic từ tháng 06 năm 2025 đến tháng 07 năm 2025. Đối tượng nghiên cứu được các thu thập thông tin bao gồm tuổi, giới, BMI, huyết áp, xét nghiệm beta-crosslaps (b-CTX), osteocalcin (OC), canxi, phospho và đo mật độ xương bằng phương pháp đo hấp thụ X quang thường quy (RA).    

Kết quả: Nồng độ b-CTX ở nhóm loãng xương (551 [392 – 732] pg/mL) cao hơn nhóm thiếu xương (475 [325 – 658] pg/mL) và nhóm bình thường (402 [247 – 518] pg/mL) với p = 0,095. Điểm cắt trong chẩn đoán loãng xương của b-CTX là ≥ 367 pg/mL, với độ nhạy 85,7% và độ đặc hiệu 37,9% (AUC = 0,61; KTC 95%: 0,49 – 0,73). Mô hình đa biến dự đoán xác suất loãng xương gồm các yếu tố tuổi trên 60, b-CTX và phospho cho AUC = 0,7325 (KTC 95%: 0,6260 – 0,8391).    

Kết luận: Nồng độ b-CTX huyết thanh ở nhóm loãng xương cao hơn nhóm thiếu xương, cao hơn nhóm bình thường nhưng không có ý nghĩa thống kê. Trong chẩn đoán loãng xương, sử dụng b-CTX riêng lẻ cho giá trị chẩn đoán khá yếu, áp dụng mô hình đa biến kết hợp các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng cho giá trị chẩn đoán cao hơn.

Tài liệu tham khảo
[1]
Hồ Phạm Thục Lan, Nguyễn Văn Tuấn. Sinh lý học loãng xương. Thời sự Y học. 2011 Jul;07(62):22–28. Google Scholar
[2]
WHO Scientific Group. Prevention and management of osteoporosis. Geneva: World Health Organization; 2003. Google Scholar
[3]
Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên. Loãng xương nguyên nhân, chẩn đoán điều trị và phòng ngừa. Hồ Chí Minh City; 2007. Google Scholar
[4]
Schini M, Vilaca T, Gossiel F, et al. Bone Turnover Markers: Basic Biology to Clinical Applications. Endocr Rev. 2023;44(3):417–473. Google Scholar
[5]
Nguyễn Trọng Hưng, Ngô Thị Thu Huyền. Tình trạng loãng xương của người bệnh đến khám tại Viện Dinh dưỡng năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;545(3):100–103. Google Scholar
[6]
Phạm Thị Uyên, Ngô Quỳnh Hoa. Khảo sát mật độ xương và một số yếu tố liên quan với loãng xương tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;534:152–156. Google Scholar
[7]
Lại Thuỳ Dương, Nguyễn Thị Thanh Mai. Nghiên cứu thực trạng loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh đến khám tại Khoa Khám bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;530(1). Google Scholar
[8]
Cao Thanh Ngọc, Nguyễn Đông Lập, Trần Hồng Thuỵ, et al. Mối tương quan giữa nồng độ một số dấu ấn chu chuyển xương và mật độ xương ở phụ nữ cao tuổi. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;524(2). Google Scholar
[9]
Trần Văn Đức, Lê Văn An, Nguyễn Hải Thuỷ. Nghiên cứu mối liên quan giữa osteocalcin và CTX huyết thanh với mật độ xương trong dự báo mất xương và điều trị loãng xương ở đối tượng phụ nữ trên 45 tuổi. Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế. 2017;7(5):126–131. Google Scholar