Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của người bệnh bị khuyết hổng phần mềm do chấn thương. So sánh sự khác biệt về kết quả điều trị giữa nhóm bệnh nhân được chiếu hồng ngoại và nhóm không chiếu hồng ngoại tại Khoa Phẫu thuật tạo hình Thẩm mỹ, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu mô tả–so sánh có đối chứng trên 68 bệnh nhân khuyết phần mềm do chấn thương được ghép da (38 bệnh nhân có chiếu hồng ngoại; 30 bệnh nhân không chiếu) tại khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và theo dõi sau phẫu thuật ghép da. Phân tích thống kê dùng kiểm định Chi-square, ngưỡng ý nghĩa p<0,05.
Kết quả: Bệnh nhân từ 20–60 tuổi chiếm đa số (61,67%), nam giới chiếm 65,00%. Tai nạn giao thông là nguyên nhân chấn thương chính (80,00%), với tổn thương tập trung ở bàn chân và cẳng chân với 43,33%. Nhóm sử dụng liệu pháp hồng ngoại (PBM) có tỷ lệ mảnh ghép sống tốt cao hơn (46,67% so với 40,0%; p=0,037). Biến chứng khác biệt có ý nghĩa (p=0,04): Nhóm chiếu hồng ngoại có tình trạng sẹo ít hơn nhóm không chiếu hồng ngoại với: sẹo lồi (0% vs 3,33%), sẹo lõm (26,67% vs 53,33%). Sau 3 tháng, cảm giác bình thường tại vùng ghép đạt 26,67% (nhóm PBM) và 50,0% (nhóm không chiếu; p=0,156), màu sắc sẫm chiếm ưu thế ở cả hai nhóm (80,00% và 70,0%; p=0,640), nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Kết luận: PBM sau ghép da cải thiện tỷ lệ sống mảnh ghép, giảm tình trạng sẹo nhưng tăng nguy cơ xô lệch. Không có khác biệt về thời gian liền thương, nằm viện, cảm giác, màu sắc hay biên độ vận động. PBM nên kết hợp cố định (bolster/tie-over, áp lực âm) và kiểm soát vận động để tối ưu kết quả.