Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ16-HNKH Bệnh viện Nhi Đồng 2 02/10/2025

34. KIỆT SỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG NHI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Nguyễn Phương Thùy1, Vũ Trường Nhân1,2, Trần Thị Ngọc Mai1, Phạm Thị Thu Vân1, Huỳnh Thụy Phương Hồng3
1 Bệnh viện Nhi Đồng 2
2 Viện Khoa học Sức khỏe DNC, Trường Đại học Nam Cần Thơ
3 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên hệ: nguyenphuongthuy060390@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD16.3346
19 Lượt xem
21 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ kiệt sức nghề nghiệp và các yếu tố liên quan ở điều dưỡng nhi đang làm việc tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Nhi Đồng 2.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bộ công cụ Maslach Burnout Inventory – Human Services Survey (MBI-HSS) để đánh giá ba khía cạnh của kiệt sức: cạn kiệt cảm xúc (EE), tính tiêu cực cá nhân (DP), và thành tích cá nhân (PA). Đồng thời, các yếu tố liên quan đến môi trường làm việc được khảo sát qua thang đo cuộc sống công việc (AWS).

Kết quả: Trong số 226 điều dưỡng được khảo sát, tỉ lệ kiệt sức nghề nghiệp ở mức độ trung bình đến cao lần lượt là: EE 44,2%, DP 17,3%, và PA 23,9%. Điểm trung bình của các khía cạnh lần lượt là EE: 2,26 ± 1,52; DP: 1,09 ± 1,15; PA: 4,63 ± 0,92. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: thu nhập từ bệnh viện, tần suất làm đêm, làm tăng cường cuối tuần, làm thêm ngoài bệnh viện, khối lượng công việc, tính công bằng, cộng đồng, khen thưởng và giá trị nghề nghiệp (p < 0,05).

Kết luận: Kiệt sức nghề nghiệp ở điều dưỡng nhi tại bệnh viện được ghi nhận ở mức đáng kể, đặc biệt ở khía cạnh cạn kiệt cảm xúc. Cần thiết xây dựng các chính sách hỗ trợ nhằm giảm thiểu tình trạng này, cải thiện môi trường làm việc, nâng cao sức khỏe tinh thần và chất lượng chăm sóc bệnh nhi.

Tài liệu tham khảo
[1]
Razia AG Khammissa, Simon Nemutandani, Gal Feller (2022). Burnout phenomenon: neurophysiological factors, clinical features, and aspects of management. Journal of International Medical Research;50(9):03000605221106428. doi:10.1177/03000605221106428 Google Scholar
[2]
WHO (2023). ICD-11 for mortality and morbidity statistics. QD85 Burn-out. February 17/ 2023. https://icd.who.int/browse11/l-m/en#/http:// Google Scholar
[3]
Hanife Bilal, Hatice Yildirim Sari (2019). Relationship between burnout and patient safety attitudes in pediatric nurses in a hospital in Turkey. Enfermería Clínica;30(1):37-41. doi:9.10.1016/j.enfcle.2019.08.004 Google Scholar
[4]
Mária Sováriová Soósová (2021). Association between nurses’ burnout, hospital patient safety climate and quality of nursing care. Central European Journal of Nursing and Midwifery1;12(1):245. doi:10.15452/CEJNM.2021.12.0039 Google Scholar
[5]
Tiffany Woo, Roger Ho, Arthur Tang (2020). Global prevalence of burnout symptoms among nurses: A systematic review and meta-analysis. Journal of psychiatric research;123:9-20. doi:10.1016/j.jpsychires.2019.12.015 Google Scholar
[6]
Huong Thi Thu Nguyen, Kazuyo Kitaoka, Masune Sukigara, Anh Lan Thai (2019). Burnout study of clinical nurses in Vietnam: Development of job burnout model based on Leiter and Maslach's theory. Asian nursing research;12(1):42-49. doi:10.1016/j.anr.2018.01.003 Google Scholar
[7]
Lê Thị Thanh Nguyện, Trần Ngọc Đăng, Nguyễn Trường Viên, Bùi Thị Thu Hà Google Scholar