Mục tiêu: Mô tả đặc điểm và kết quả nong thực quản trên trẻ hẹp miệng nối sau mổ teo thực quản bẩm sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2 trong thời gian từ tháng 01/2022 – 12/2023 trong thời gian theo dõi 6 tháng.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca. Đối tượng nghiên cứu là trẻ teo thực quản được phẫu thuật và theo dõi ở bệnh viện Nhi Đồng 2, nhập viện trong khoảng thời gian từ 01/01/2022 đến 31/12/2023.
Kết quả: Có 46 bệnh nhân chẩn đoán teo thực quản, trong đó typ C nhiều nhất với 39 ca (84,8%). 89% trẻ teo thực quản có dị tật bẩm sinh đi kèm. 12 (26%) trường hợp có nong thực quản vì hẹp miệng nối. Thời điểm nong thực quản trung vị là 8 tháng tuổi (1,5 – 52,5 tháng). Số lần nong thực quản trung vị là 2 (1 - 3,5), ít nhất là 1 lần và nhiều nhất là 6 lần, trong đó có 7 ca phải nong nhiều lần với khoảng cách trung vị giữa 2 lần nong là 3,5 tháng (1 - 11 tháng). Phương pháp nong được dùng là bằng que Maloney (46,4%), bóng (39,3%), 25% kết hợp cả 2 phương pháp và 8% dùng ống Tucker. Tỷ lệ thành công sau lần đầu nong là 42%, sau 2 -4 lần nong là 25%, sau 6 lần nong là 8%; 25% thất bại, Các biến chứng khác bao gồm tràn khí tràn dịch màng phổi (39,1%) viêm phổi tái phát (19,6%), khò khè kéo dài (17,4%) và dò khí thực quản tái phát (6,5%). Không có biến chứng gây tử vong.
Kết luận: Teo thực quản bẩm sinh thường đi kèm với các dị tật khác. Nong thực quản bằng bóng, Maloney là phương pháp có hiệu quả, an toàn, tuy nhiên tỷ lệ tái hẹp còn cao, cần chú ý điều trị các rối loạn kèm theo và biến chứng khác. Đồng thời, có thể cân nhắc các phương pháp khác như đặt stent thực quản.