Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ16-HNKH Bệnh viện Nhi Đồng 2 02/10/2025

26. TÌNH TRẠNG SỤT CÂN Ở BỆNH NHI SAU NHẬP VIỆN: TỶ LỆ SỤT CÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TẠI KHOA NỘI 3 BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Nguyễn Thị Thu Hậu1, Nguyễn Trương Kim Ngân2, Phạm Thị Đức Lợi1
1 Bệnh viện Nhi Đồng 2
2 Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên hệ: thuhaunt@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD16.3338
28 Lượt xem
27 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát tình trạng sụt cân ở trẻ em sau nhập viện tại khoa Nội 3 Bệnh viện Nhi Đồng 2 (BVNĐ2) năm 2025 và các yếu tố nguy cơ của sụt cân.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu (NC) cắt ngang mô tả trên 178 trẻ từ 0 đến dưới 16 tuổi điều trị tại Khoa Nội 3 Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 3 – 5/2025.

Kết quả: Tỷ lệ sụt cân sau 3 ngày là 42,1%, mức sụt cân <2%: 32,0%, sụt cân 2 – <5%: 53,3%, sụt cân 5 – <10%: 14,7% và không trẻ nào sụt cân từ 10% trở lên. Tỷ lệ sụt cân khi xuất viện là 51,7%, mức sụt cân <2%: 21,7%, sụt cân 2 – <5%: 47,8%, sụt cân 5 – <10%: 28,3% và sụt cân ≥ 10%: 2,2%. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ sụt cân sau 3 ngày nằm viện bao gồm: nhóm trẻ từ 12 – dưới 48 tháng tuổi và  chế độ ăn như người trưởng thành có ý nghĩa thống kê. Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ sụt cân khi xuất viện bao gồm: nhóm trẻ từ 12 – dưới 48 tháng tuổi và chế độ ăn cháo/ bột có ý nghĩa thống kê.

Kết luận: Tình trạng sụt cân trong thời gian điều trị nội trú ở trẻ em chiếm tỷ lệ khá cao và phổ biến. Cần tăng cường tư vấn dinh dưỡng, theo dõi sát tình trạng ăn uống và cân nặng trong quá trình nằm viện, hướng dẫn cụ thể cho người chăm sóc về khẩu phần ăn phù hợp nhằm rút ngắn thời gian điều trị và nâng cao khả năng hồi phục bệnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Hwang EH, Park JH, Chun P, Lee YJ. (2016). Prevalence and Risk Factors for the Weight Loss during Hospitalization in Children: A Single Korean Children's Hospital Experience. Pediatr Gastroenterol Hepatol Nutr;19(4):269-275. doi:10.5223/pghn.2016.19.4.269 Google Scholar
[2]
Hoddinott J, Behrman JR, Maluccio JA, et al. (2013). Adult consequences of growth failure in early childhood. Am J Clin Nutr;98(5):1170-8. doi:10.3945/ajcn.113.064584 Google Scholar
[3]
Meenakshi Monga, Catherine Sikorski, Himali de silva, Marie McGrath, Marko Kerac. (2023). Identifying underweight in infants and children using growth charts, lookup tables and a novel “MAMI” slide chart: A cross-over diagnostic and acceptability study. Google Scholar
[4]
Lê Thị Ngọc Trân, Văn Quang Tân (2017). Thực trạng dinh dưỡng bệnh nhân nhi 6 – 60 tháng tuổi tại khoa nhi Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bình Dương. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm;13(4):22-29. Google Scholar
[5]
Nguyễn Thị Thu Hậu, Nguyễn Minh Châu, Đoàn Thị Ngọc Hân, et al. (2024). Weight loss in pneumonia patients aged 6–60 months treated at Children’s Hospital 2 and its relationship to length of hospital stay and treatment response. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm;20(3E):57–63. doi:10.56283/1859-0381/714 Google Scholar
[6]
Bộ Y tế (2016).. Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam. Google Scholar
[7]
Thibault R, Abbasoglu O, Ioannou E, et al. (2021). ESPEN guideline on hospital nutrition. Clin Nutr;40(12):5684-5709. doi:10.1016/j.clnu.2021.09.039 Google Scholar