Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ15-HNKH Trường Đại học Võ Trường Toản 12/01/2026

44. TÌM HIỂU HIỆU QUẢ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ ĐAU TRÊN BỆNH NHÂN ĐAU VÙNG CỔ GÁY HIỆN NAY.

Lư Thị Phương Oanh1, Phan Thanh Tài1, Nguyễn Kim Vượng2, Lê Đình Hùng1, Lê Vũ Thanh Liêm1, Nguyễn Thị Thanh Ngà1, Võ Hoàng Chinh1
1 1. Trường Đại Học Võ Trường Toản
2 2. Bệnh Viện Đại Học Võ Trường Toản
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD15.3295
24 Lượt xem
18 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, yếu tố liên quan và phương pháp điều trị đau trên bệnh nhân đau vùng cổ gáy, tập trung vào phương pháp không dùng thuốc.

Phương pháp: Tổng quan 10 nghiên cứu trong và ngoài nước (2021–2025), bao gồm dịch tễ, yếu tố nguy cơ (BMI, giấc ngủ, hút thuốc) và các can thiệp (điện châm, kéo giãn, phối hợp YHHĐ–YHCT, paraffin).

Kết quả: Bệnh gặp chủ yếu ở lứa tuổi 40–69, có thể khởi phát từ 30 tuổi. Yếu tố nguy cơ: nam giới, thừa cân/béo phì, ngủ kém. Tại cơ sở y học cổ truyền Việt Nam, 99,5% bệnh nhân dùng thuốc YHCT và 100% áp dụng phương pháp không dùng thuốc; điện châm (96,8%), thủy châm (48,4%), cấy chỉ (34,4%). Hiệu quả điều trị cao (96,7% đỡ/khỏi). Phối hợp điện châm–paraffin cải thiện đau và vận động hơn đơn trị (p<0,05); cấy chỉ + chiếu đèn tần phổ đạt 90% tốt/khá. Quốc tế cho thấy rằng hiệu quả kéo giãn (radiculopathy) và trị liệu thủ công kết hợp bài tập.

Kết luận: Điện xung (TENS, dòng giao thoa) là phương pháp an toàn, ít xâm lấn, giúp giảm đau, cải thiện vận động. Hiệu quả phụ thuộc vào tuổi, thời gian mắc bệnh, thói quen sinh hoạt và sự tuân thủ điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Quốc Anh (2024), Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị bệnh Nội Khoa , Bệnh viện Bạch Mai, NXB Y học Google Scholar
[2]
Nguyễn Hoàng Anh, Trần Thái Hà và Hà Thị Thanh Hương (2023), "Khảo sát một số đặc điểm của bệnh nhân hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Y học Cổ Truyền Trung Ương", Tạp chí Y học Việt Nam. 526 (2). Google Scholar
[3]
Maksim A Shlykov el all (2023), "Evaluation of genetic and nongenetic risk factors for degenerative cervical myelopathy", Spine. 48 (16), pp 1117-1126. Google Scholar
[4]
Cao Thị Huyền Trang và Phan Thị Hồng Giang (2024), "Tình hình điều trị bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ tại Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an", Tạp chí Y học Việt Nam. 534 (1) Google Scholar
[5]
Nguyễn Việt Anh, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Kim Ngọc và Trần Thị Thu Thủy (2024), "Tác dụng của tahana trong điều trị đau đầu do thoái hoá cột sống cổ", Tạp chí Y học Việt Nam. 537(2). Google Scholar
[6]
Hoàng Văn Huyên, Nguyễn Thanh Hà Tuấn, Phan Văn Minh và Nguyễn Vinh Quốc (2023), "Hiệu quả điều trị hội chứng cố vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ bằng bài thuốc thân thống trục ứ thang kết hợp điện châm", Tạp chí Y học Việt Nam. 530(2). Google Scholar
[7]
Nguyễn Dương Hanh, Trầm Văn Nhiều và Nguyễn Thị Mỹ Liên (2024), "Đánh giá kết quả điều trị thoái hóa cột sống cổ bằng kéo máy kéo dãn cột sống tại bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng cần thơ 2023", Tạp chí Y học Việt Nam. 536(1). Google Scholar
[8]
Nguyễn Thị Thanh Tú (2022), "Tác dụng giảm đau và cải thiện tầm vận động cột sống cổ của điện châm kết hợp đắp paraffin trên bệnh nhân hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ", Tạp chí Nghiên cứu Y học. 158(10), tr. 85-93. Google Scholar
[9]
Zhang, P., Zhao, X., Guo, J., Ma, M., Fan, Y., & Stecco, C. (2025). Efficacy of Fascial Manipulation on Pain, Function, and Neck Disability in Chronic Non-Specific Neck Pain: A Randomized Controlled Trial. Google Scholar
[10]
Eiman Saeida Saleh A, et al (2024), A Comparative Study on the Adequacy of Transcutaneous Electrical Nerve Stimulation and Traction Devices in Patients with Cervical Spondylosis, Derna Academy Journal for Applied Sciences 2(1), 48-62. Google Scholar