Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản (2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ thoái hóa ở bệnh nhân thoái hoá khớp gối nguyên phát.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu hồ sơ bệnh án trên 1050 bệnh nhân thoái hoá khớp gối nguyên phát từ năm 2020 đến năm 2025 tại Bệnh viện Đại học Võ Trường Toản bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Kết quả: Trong tổng số 1.050 bệnh nhân thoái hóa khớp gối, nữ giới chiếm đa số (72,1%), tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 50–69 (60,7%). Về nghề nghiệp, tỷ lệ cao nhất là nhóm không còn lao động hoặc nội trợ (44,8%), tiếp theo là lao động chân tay (36,2%). Tỷ lệ thoái hóa gối phải (40,1%) và trái (37%) gần tương đương, thoái hóa hai bên gối chiếm 22,9%. Trên X-quang, dấu hiệu hẹp khe khớp phổ biến nhất (48,8%), kế đến là loãng xương (40,2%) và đặc xương dưới sụn (31,2%); gai xương lớn gặp ở 14,3% bệnh nhân. Siêu âm cho thấy 37,7% có ít dịch khớp và 35,6% có tràn dịch khớp. Về phân độ thoái hóa, đa số thuộc Độ I (48,3%) và II (48,7%), trong khi Độ III và IV chỉ chiếm lần lượt 2,5% và 0,5%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ (p = 0,74), nhưng tuổi và nghề nghiệp liên quan rõ rệt đến mức độ thoái hóa (p < 0,05); trong đó, tỷ lệ thoái hóa nặng tăng theo tuổi, đặc biệt ở nhóm ≥ 60 tuổi, và cao nhất ở nhóm lao động chân tay (5,3%), trong khi nhóm hưu trí/nội trợ chủ yếu ở Độ II (55,5%)
Kết luận: Thoái hóa khớp gối nguyên phát chủ yếu gặp ở nữ giới, độ tuổi trung niên trở lên, với biểu hiện lâm sàng điển hình là đau khớp và hạn chế vận động. Trên hình ảnh X-quang, hẹp khe khớp và loãng xương là các dấu hiệu thường gặp; đa số bệnh nhân được chẩn đoán ở mức độ I và II theo thang điểm Kellgren – Lawrence. Mức độ thoái hóa có liên quan đáng kể đến người lớn tuổi và nhóm lao động chân tay.