Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ13- HNKH Gây mê Hồi sức 25/09/2025

40. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY TÊ ĐÁM RỐI THẦN KINH CÁNH TAY ĐƯỜNG GIAN CƠ BẬC THANG DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM TRONG PHẪU THUẬT XƯƠNG CÁNH TAY

Nguyễn Văn Nghĩa1, Trần Văn Quỳnh1, Vũ Đình Sử1, Trần Mạnh Hà1, Bùi Đức Thành2
1 Bệnh viện Quân y 87
2 Bệnh viện Quân y 175
Tác giả liên hệ: dr.vannghia@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD13.3206
30 Lượt xem
16 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả vô cảm và tỷ lệ các tai biến, biến chứng của gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường gian cơ bậc thang dưới hướng dẫn siêu âm trong phẫu thuật xương cánh tay.

Phương pháp: 41 bệnh nhân ASA I-III được gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường gian cơ bậc thang dưới hướng dẫn siêu âm bằng Lidocain 1,5% từ tháng 5 đến tháng 12 năm 2024. Đánh giá chất lượng vô cảm, đồng thời ghi nhận thời gian thực hiện kỹ thuật, thời gian tiềm phục, kéo dài ức chế cảm giác, vận động, các tai biến và biến chứng.

Kết quả: Tỷ lệ vô cảm tốt là 90,2%; thời gian thực hiện kỹ thuật là là 8,8 ± 1,9 phút; thời gian tiêm phục cảm giác là 6,8 ± 2,2 phút, vận động là 8,9 ± 2,4 phút; thời gian kéo dài ức chế cảm giác là 149,4 ± 17,7 phút, vận động là 131,1 ± 15,4 phút. Tai biến chọc vào thần kinh là 21,9%, chọc vào mạch máu là 12,2%, hội chứng Claude-Bernard-Horner là 7,3%. Không ghi nhận các tai biến phong bế dây thần kinh quặt ngược, tiêm thuốc tê vào khoang dưới nhện hay ngoài màng cứng, ngộ độc thuốc tê, nhiễm trùng vị trí chọc kim.

Kết luận: Gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường gian cơ bậc thang dưới hướng dẫn siêu âm cho phẫu thuật xương cánh tay là phương pháp an toàn, hiệu quả, ít tai biến và biến chứng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Park S.K et al. Ultrasound guided low approach interscalene brachial plexus block for upper limb surgery. Korean J Pain, 2016, 29 (1), pp.18-22. Google Scholar
[2]
Badhan A et al. Comparison between conventional technipue and ultrasound guided technique for interscalene brachial plexus block in upper limb surgeries. International Journal of Recent Scientific Research, 2019, 10 (6), pp. 32746-32750. Google Scholar
[3]
An Hải Toàn và cộng sự. Đánh giá hiệu quả gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường gian cơ bậc thang dưới hướng dẫn siêu âm trong vi phẫu thuật nối mạch máu thần kinh vùng cẳng tay. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2020, 15 (5), tr. 1-7. Google Scholar
[4]
Bùi Minh Hồng và cộng sự. Đánh giá hiệu quả gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường gian cơ bậc thang dưới hướng dẫn siêu âm trong vi phẫu thuật nối mạch máu thần kinh vùng cẳng tay. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 525, tr. 44-48. Google Scholar
[5]
Pongraweewan O et al. Onset time of 2% Lidocaine and 0,5% Bupivacaine mixture versus 0,5% Bupivacaine alone using ultrasound and double nerve stimulation for infraclavicular brachial plexus anesthesia in ESRD patients undergoing arteriovenous fistula creation. Journal of the Medical Association of Thailand, 2016, 99 (5), pp. 589-595. Google Scholar
[6]
Shivinder S et al. An evaluation of brachial plexus block using a nerve stimulator versus ultrasound guidance: A randomized controlled trial. J Anaesthesiol Clin Pharmacol, 2015, 31 (3), pp. 370-374. Google Scholar
[7]
Nguyễn Văn Trí và cộng sự. Đánh giá một số yếu tố tương quan ảnh hưởng đến gây tê đám rối thần kinh cánh tay trong phẫu thuật chi trên. Tạp chí Y học lâm sàng, 2020, 60, tr. 23-30. Google Scholar
[8]
Trương Triều Phong và cộng sự. Đánh giá hiệu quả gây tê đám rối thần kinh cánh tay tại vị trí trên xương đòn trong phẫu thuật chi trên. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Bệnh viện An Giang, 2016, tr. 104-113. Google Scholar
[9]
Nguyễn Xuân Tiến và cộng sự. Nghiên cứu gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường nách dưới hướng dẫn siêu âm trong phẫu thuật chi trên. Tạp chí Y Dược học thực hành 175, 2021, 26, tr. 49-59. Google Scholar
[10]
Kiran A.H et al. Comparison between conventional and ultrasound-guided supraclavicular brachial plexus block in upper limb surgeries. Anesthesia: Essays and Researches, 2017, 11 (2), pp. 467-471. Google Scholar