Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ13- HNKH Gây mê Hồi sức 25/09/2025

8. HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ MẶT PHẲNG CƠ DỰNG SỐNG TIÊM MỘT LẦN TRONG PHẪU THUẬT TIM HỞ XÂM LẤN TỐI THIỂU Ở TRẺ EM

Nguyễn Thị Út Liên1,2, Nguyễn Toàn Thắng3,4,5,6, Nguyễn Đình Chiến1,2, Nguyễn Thị Mai1,2, Hoàng Thị Thu Trang1,2, Nguyễn Xuân Phúc1,2
1 National Children’s Hospital
2 Bệnh viện Nhi Trung ương
3 Hanoi Medical University
4 Bach Mai Hospital
5 Trường Đại học Y Hà Nội
6 Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả liên hệ: lienhai2007@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD13.3174
22 Lượt xem
28 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau của phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống đường bên phải tiêm một lần bằng Levobupivacain 0,25% trong phẫu thuật tim hở xâm lấn tối thiểu ở trẻ em.

Đối tượng và phương pháp: 30 trẻ thông liên thất hoặc thông liên nhĩ có chỉ định phẫu thuật tim hở xâm lấn tối thiểu sử dụng phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống đường bên phải tiêm một lần bằng Levobupivacain 0,25% tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 9/2024 đến tháng 6/2025.

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 30,9 ± 21,9 tháng; cân nặng 13,2 ± 9,2 kg; 60% nữ; 56,7% trẻ mắc thông liên thất và 43,3% trẻ mắc thông liên nhĩ với đa số trẻ mắc suy tim độ I (66,7%). Thời gian gây mê trung bình là 251,2 ± 34,9 phút; thời gian phẫu thuật trung bình là 141 ± 33,4 phút; thời gian rút ống nội khí quản trung bình là 26,0 ± 12,5 phút. Liều Fentanyl sử dụng trong mổ 4,3 ± 1,9 mcg/kg, tổng lượng Fentanyl sau mổ 24 giờ 23,1 ± 1,7 mcg/kg; 67% trẻ không cần thuốc an thần. 100% bệnh nhi không đau sau 24 giờ. Không ghi nhận trẻ nào gặp biến chứng; thời gian nằm hồi sức 1-2 ngày, thời gian nằm viện trung bình 10 ngày.

Kêt luận: Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống đường bên phải tiêm một lần bằng Levobupivacain 0,25% là phác đồ gây mê an toàn, kiểm soát đau hiệu quả, hỗ trợ hồi phục nhanh.

Tài liệu tham khảo
[1]
Damião V.P, Andrade P.P, de Oliveira L.S.G et al. Efficacy of Erector Spinae Plane Block (ESPB) in pediatric cardiac surgeries: a systematic review and meta-analysis. Braz J Anesthesiol, 2025, 75 (2), 844579. Google Scholar
[2]
Ross R.D. The Ross classification for heart failure in children after 25 years: a review and an age-stratified revision. Pediatr Cardiol, 2012, 33 (8), 1295-300. Google Scholar
[3]
Peng T, Qu S, Du Z et al. A Systematic Review of the Measurement Properties of Face, Legs, Activity, Cry and Consolability Scale for Pediatric Pain Assessment. J Pain Res, 2023, 16, 1185-1196. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Thu Hằng, Trịnh Thị Tùng Phương, Vũ Thị Huệ và cộng sự. Hiệu quả giảm đau của phong bế cạnh sống liên tục bằng catheter đặt trực tiếp trong mổ cho phẫu thuật tim hở xâm lấn tối thiểu ở trẻ em. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 1 (544), 196-204. Google Scholar
[5]
Trần Thiện Đạt, Đỗ Anh Tiến, Lê Ngọc Thành và cộng sự. Kết quả phẫu thuật tim hở ít xâm lấn vá thông liên thất qua đường ngực phải ở trẻ em tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E. Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 2021, 34, 79-87. Google Scholar
[6]
Dixit S, Sharma A, Suthar J et al. Repair of ventricular septal defect through anterolateral thoracotomy with central cannulation: our experience. Indian J Thorac Cardiovasc Surg, 2020, 36 (5), 476-482. Google Scholar
[7]
Nguyễn Đình Chiến. Hiệu quả giảm tiêu thụ Opioid trong và sau phẫu thuật tim mở ít xâm lấn ở trẻ em bằng gây tê cạnh cột sống dưới hướng dẫn siêu âm. Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2023. Google Scholar
[8]
Eckerström F, Nyboe C, Maagaard M et al. Survival of patients with congenital ventricular septal defect. Eur Heart J, 2023, 44 (1), 54-61. Google Scholar