Bài báo khoa học Tập 66 Số CĐ14-HNKH BV Giao thông Vận tải 12/01/2026

60. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ LỌC MÁU THÔNG QUA CHỈ SỐ KT/V Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN

Dương Thị Hồng1,2, Nguyễn Hữu Dũng3,4, Đồng Thế Uy5,6, Đỗ Gia Tuyển5,6, Nguyễn Thị Thùy Linh1,2
1 Nghe An General Friendship Hospital
2 Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An
3 Bach Mai Hospital
4 Bệnh viện Bạch Mai
5 Hanoi Medical University
6 Trường Đại học Y Hà Nội
Tác giả liên hệ: duongthihong156@gmail.com
DOI: 10.52163/yhc.v66iCD14.3168
22 Lượt xem
17 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề: Hiện nay ở các nước đang phát triển việc tái sử dụng lại quả lọc để giảm chi phí lọc máu là phổ biến. Để đánh giá hiệu quả lọc máu người ta dùng chỉ số Kt/V để đánh giá hiệu quả các cuộc lọc.

Mục tiêu: Nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số Kt/V hiển thị tự động trên máy lọc máu (OCM) với chỉ số Kt/V tính theo công thức Daugirdas và Lowrie ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu trên tất cả bệnh nhân lọc máu tại Khoa Thận Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An thỏa mãn tiêu chí  lựa chọn.

Kết quả nghiên cứu:Tuổi trung bình của bệnh nhân là 49,92 ± 15,55. Tỷ lệ đạt Kt/V theo khuyến cáo giảm dần theo các công thức Daugirdas, OCM, Lowrie (p < 0,001). Kt/V theo OCM giảm dần qua các lần lọc (p < 0,001). Hệ số tương quan giữa Kt/V đo trên máy và theo công thức Daugirdas là R = 0,843.

Kết luận: Chỉ số Kt/V có xu hướng giảm theo số lần sử dụng lại quả lọc. Kt/V đo trên máy OCM có mối tương quan chặt chẽ với công thức Daugirdas, có thể sử dụng thay thế trong đánh giá hiệu quả lọc máu chu kỳ

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Cao Luận. Kỹ thuật thận nhân tạo nâng cao. Bệnh viện Bạch Mai. 2021:77. Google Scholar
[2]
Nguyễn Thanh Hồng. Đánh giá hiệu quả lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thống Nhất Đồng Nai. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2023;65(CĐ 1 - Liên chi hội Phẫu thuật bàn tay). Google Scholar
[3]
Phan Minh Hoàng, Nguyễn Hồng. Hiệu quả lọc máu và các yếu tố liên quan ở người bệnh thận lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;539(1B). Google Scholar
[4]
Phạm Văn Hiền. Đánh giá hiệu quả ứng dụng Kt/V trên máy thận nhân tạo ở bệnh nhân đang lọc máu chu kỳ. Hội nghị Khoa học lần thứ II – Hội Lọc máu Việt Nam. VDA 2022:127–132. Google Scholar
[5]
Nguyễn Nguyên Khôi. Sử dụng lại quả lọc. Kỹ thuật thận nhân tạo nâng cao. Bệnh viện Bạch Mai. 2021:60–74. Google Scholar
[6]
Đỗ Gia Tuyển. Bệnh học nội khoa Thận - Tiết niệu. Tập 2. 2020:225–226. Google Scholar
[7]
García Testal A, García Maset R, Fornés Ferrer V, Cañada Martínez AJ, Rico Salvador IS, Royo Maicas P, Fernández Najera JE, Olagüe Díaz P, Benedito Carrera C, Torregrosa De Juan E. Influential factors on dose by ionic dialysance in daily practice in chronic hemodialysis. Nephrol Ther. 2021;17(2):101–107. Google Scholar
[8]
Arogundade F, Barsoum RS. Indices for assessment of hemodialysis adequacy: a comparison of different formulae. Hemodial Int. 2005;9(4):325–331. Google Scholar
[9]
] Hasan M, et al. Prevalence of chronic kidney disease in South Asia. BMC Nephrol 19 , 291 (2018) Google Scholar